Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
202. Kinh Trì Trai
203. Kinh Bô-Lị-Ða
204. Kinh La-Ma
205. Kinh Ngũ Hạ Phần Kết
206. Kinh Tâm Uế
207. Kinh Tiá» n Mao (I)
208. Kinh Tiá» n Mao (II)
209. Kinh Bệ-Ma-Na-Tu
210. Kinh Tỳ-Kheo-Ni Pháp Lạc
211. Kinh Đại Câu-Hy-La
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI

202. KINH TRÌ TRAI[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trụ trong Đông viên, Lộc tá»­ mẫu giảng đường  [02]

Bấy giờ Lộc Tá»­ Mẫu Tì-xá-khư  [03] , và o lúc sáng sớm, tắm gội, mặc chiếc áo trắng tinh, dẫn các con dâu với đoà n tùy tùng vây quanh đi đến chỗ Phật. Cúi đầu là m lá» , rồi đứng sang một bên, Thế Tôn hỏi:

“Nà y Bà cư sĩ [04] , bà vừa tắm gội chăng?

Đáp rằng:

“Bạch Thế Tôn, hôm nay con trì trai. Bạch Thế Tôn, hôm nay con trì trai.”

Thế Tôn hỏi:

“Nà y Bà cư sĩ, hôm nay bà trì loại trai nà o? Vì trai có ba loại. Những gì là ba? Thứ nhất là loại trai của mục đồng; thứ hai là loại trai của Ni-kiền; thứ ba là Thánh trai tám chi.

“Nà y Bà cư sĩ, thế nà o là loại trai của mục đồng [05] ? Mục đồng buổi sáng thả trâu trong đầm, buổi xế dẫn trâu về thôn. Khi về thôn, nó nghĩ rằng, ‘Ngà y hôm nay ta thả trâu ở chỗ nà y; ngà y mai ta sẽ thả trâu ở chỗ kia. Ngà y hôm nay ta cho trâu uống ở chỗ nà y; ngà y mai ta sẽ cho trâu uống nước tại chỗ kia. Nà y Bà cư sĩ, nếu người trì trai nghĩ rằng, ‘Ngà y hôm nay ta ăn đồ ăn như vầy; ngà y mai ta sẽ ăn đồ ăn như kia. Ngà y hôm nay ta uống thức uống như vầy; ngà y mai ta sẽ uống thức uống như kia. Ngà y hôm nay ta nuốt thức ăn như vầy; ngà y mai ta sẽ nuốt thức ăn như thế kia’. Người ấy ở đây trải qua ngà y đêm hoan lạc, đắm trước trong dục vọng như vậy. Đó gọi là loại trai của mục đồng. Nếu trì loại trai mục đồng như vầy, không thu hoạch được đại lợi, không được đại quả, không có đại công đức, không được phát triển.

“Nà y Bà cư sÄ©, thế nà o là loại trai cá»§a Ni-kiền  [06]? Nếu có người xuất gia học theo Ni-kiền, vị ấy khuyên người rằng, ‘Ngươi đối với chúng sanh ở ngoà i một trăm do-diên về phía Đông, để á»§ng hộ chúng sanh ấy, hãy loại bỏ dao gậy. CÅ©ng vậy, đối với phương Tây, phương Nam và phương Bắc, ngoà i một trăm do-diên mà có chúng sanh nà o, vì để á»§ng hộ chúng sanh ấy, hãy loại bỏ dao gậy’. Người ấy khuyến khích sách tấn người khác như vậy. Hoặc chúng sanh có tưởng được thá»§ hộ, hoặc chúng sanh không có tưởng không được á»§ng hộ, ngươi và o ngà y mười lăm là ngà y thuyết Tùng giải thoát, cởi bỏ y phục, để mình trần truồng, đứng ngay về phương Đông, nói như vầy, ‘Ta không có cha mẹ, không thuộc về cha mẹ. Ta không có vợ con, không thuộc về vợ con. Ta không có nô tỳ, không thuộc về nô tỳ’. Nà y Bà cư sÄ©, người ấy khuyến khích sách tấn bằng lời nói chân thật, nhưng ngược lại sá»± khuyến khích sách tấn trở thà nh những lời nói hư dối. Người ấy ngà y ngà y gặp mặt cha mẹ mình và nghÄ© rằng, ‘Đây là cha mẹ ta’. Cha mẹ người ấy ngà y ngà y cÅ©ng thấy con mình cÅ©ng nghÄ© rằng, ‘Đây là con ta’. Người ấy gặp mặt vợ con và nghÄ© rằng, ‘Đây là vợ con ta’. Vợ con cÅ©ng thấy người ấy và cÅ©ng nghÄ© rằng ‘Đây là tôn trưởng cá»§a ta’. Người ấy gặp mặt nô tỳ cÅ©ng nghÄ© rằng, ‘Đây là nô tỳ cá»§a ta’. Nô tỳ cÅ©ng thấy người ấy và cÅ©ng nghÄ© rằng, ‘Đây là chá»§ cá»§a ta’. Người ấy thọ dụng dục lạc nà y, không được cho mà thọ dụng, chứ không phải được cho mà thọ dụng [07] . Đó gọi là loại trai cá»§a Ni-kiền như vậy không thu hoạch được đại lợi, không được đại quả, không được phát triển.

“Nà y Bà cư sĩ, thế nà o là Thánh trai tám chi [08] ? Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, dẹp bỏ dao gậy, có tà m, có quý, có tâm từ bi, là m lợi ích cho tất cả cho đến côn trùng, vị ấy đối với sự sát sanh tâm đã tịnh trừ. Tôi cũng trọn đời xa lìa sát sanh [09] , đoạn trừ sát sanh, dẹp bỏ dao gậy, có tà m có quý, có tâm từ bi, là m lợi ích cho tất cả cho đến côn trùng. Đối với việc sát sanh nay tôi tịnh trừ tâm ấy.Tôi do chi nà y mà đồng đẳng không khác với A-la-hán’ [10] . Ta coi chi nà y đồng đẳng không khác với A-la-hán, cho nên nói là trai.

“Lại nữa, nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời không lấy của không cho, đoạn trừ sự lấy của không cho, những gì được cho rồi mới lấy, vui thích trong việc lấy của được cho, thường ưa bố thí, tâm vui thích sự phóng xả, hoan hỷ, không bỏn sẻn, không trông chờ báo đáp, không để sự trộm cắp che lấp tâm mình, hay tự chế ngự. Vị ấy đối với việc không cho mà lấy, tâm đã tịnh trừ. Tôi cũng trọn đời xa lìa sự lấy của không cho, đoạn trừ sự lấy của không cho, những gì được cho mới lấy, vui thích trong việc lấy của được cho, thường ưa bố thí, tâm vui thích sự phóng xả, hoan hỷ, không bỏn sẻn, thường không trông chờ sự báo đáp, không để sự trộm cắp che lấp tâm mình hay tự chế ngự. Đối với việc không cho mà lấy, nay tôi tịnh trừ tâm ấy’. Ta coi chi nà y đồng đẳng không khác với A-la-hán, cho nên nói là trai.

“Lại nữa, nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa phi phạm hạnh, đoạn trừ phi phạm hạnh, tu hà nh phạm hạnh, chí thà nh tâm tịnh, sống không xú uế, ly dục, đoạn dâm, vị ấy đối với phi phạm hạnh, tâm đã tịnh trừ. Tôi nay trong một ngà y một đêm nà y xa lìa phi phạm hạnh, đoạn trừ phi phạm hạnh tu hà nh phạm hạnh, chí thà nh tịnh tâm, sống không xú uế, ly dục, đoạn dâm. Đối với phi phạm hạnh, nay tôi tịnh trừ tâm ấy’. Ta coi chi nà y đồng đẳng không khác với A-la-hán, cho nên nói là trai.

“Lại nữa, nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời không nói láo, đoạn trừ sự nói láo chỉ nói lời chắc thật, vui thích sự thật, an trụ nơi sự thật, được mọi người tin tưởng, không lừa gạt thế gian. Vị ấy đối với sự nói dối, tâm đã tịch trừ. Tôi nay trọn đời không nói dối, đoạn trừ sự nói dối, chỉ nói lời chắc thật, vui thích sự thật, an trụ nơi sự thật, được mọi người tin tưởng, không lừa gạt thế gian. Đối với sự nói dối, tôi nay tịnh trừ tâm ấy’. Ta coi chi nà y đồng đẳng không khác với A-la-hán, cho nên nói là trai.

“Lại nữa, nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa việc uống rượu buông lung, đoạn trừ sự uống rượu buông lung. Vị ấy đối với việc uống rượu buông lung, tâm đã tịnh trừ. Tôi nay cũng trọn đời xa lìa sự uống rượu buông lung, đoạn trừ sự uống rượu buông lung. Đối với việc uống rượu buông lung, nay tôi tịnh trừ tâm ấy’. Ta coi chi nà y đồng đẳng không khác với A-la-hán, cho nên nói là trai.

“Lại nữa, nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa giường lớn cao rộng, đoạn trừ giường lớn cao rộng, vui thích nằm ngồi chỗ thấp, hoặc giường hoặc trải cỏ. Vị ấy đối với giường lớn cao rộng, tâm đã tịnh trừ. Tôi nay trong một ngà y một đêm nà y xa lìa giường lớn cao rộng, đoạn trừ giường lớn cao rộng, vui thích nằm ngồi chỗ thấp, hoặc giường hoặc trải cỏ. Đối với giường lớn cao rộng, tôi nay tịnh trừ tâm ấy’. Ta coi chi nà y đồng đẳng không khác với A-la-hán, cho nên nói là trai.

“Lại nữa, nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa trà ng hoa anh lạc, hương bột, phấn sáp, ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe. Đoạn trừ trà ng hoa anh lạc, hương bột, phấn sáp, ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe. Vị ấy đối với trà ng hoa anh lạc, hương bột, phấn sáp, ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe tâm đã tịnh trừ. Tôi nay trong một ngà y một đêm nà y xa lìa trà ng hoa anh lạc, hương bột, phấn sáp, ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe. Đoạn trừ trà ng hoa anh lạc, hương bột phấn sáp, ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe. Đối với trà ng hoa anh lạc, hương bột, phấn sáp, ca, vũ, xướng, kỹ và đi đến xem nghe, nay tôi tịnh trừ tâm ấy’. Ta coi chi nà y đồng đẳng không khác với A-la-hán, cho nên nói là trai.

“Lại nữa, nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy như vầy, ‘A-la-hán chân nhân trọn đời xa lìa sự ăn phi thời, đoạn trừ sự ăn phi thời. Vị ấy đối với sự ăn phi thời tâm đã tịnh trừ. Tôi nay trong một ngà y một đêm xa lìa sự ăn phi thời, đoạn trừ sự ăn phi thời. Đối với sự ăn phi thời, tôi nay tịnh trừ tâm ấy’. Ta coi chi nà y như của A-la-hán, ngang nhau không khác, do đó gọi là trai.

“Người ấy sau khi đến với Thánh trai tám chi nà y rồi, để tiến lên, lại nên tu tập năm pháp.

“Những gì là năm? Nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng Như Lai rằng, ‘Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thà nh Tựu[11] , Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự [12] , Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu[13] ’. Người ấy sau khi niệm tưởng Như Lai như vậy, ác tham nếu có liền bị tiêu diệt. Những pháp tạp uế, ác bất thiện, nếu có cũng bị diệt. Nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi Như Lai cho nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền bị diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng bị tiêu diệt. Cũng như một người trên đầu có cáu ghét, do cao, nước nóng, sức người tắm gội cho nên được sạch. Cũng vậy, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng Như Lai rằng, ‘Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thà nh Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu’. Người ấy sau khi niệm tưởng Như Lai như vậy ác lam tham nếu có liền bị diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi Như Lai nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền bị diệt, pháp tạp uế, bất thiện nếu có cũng bị diệt. Đó gọi là Đa văn Thánh đệ tử thọ trì trai giới Phạm thiên, cùng cộng hội với Phạm thiên, nhân Phạm thiên cho nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền bị diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng bị diệt.

Nà y Bà cư sÄ©, Đa văn Thánh đệ tá»­ khi trì trai niệm tưởng Pháp rằng, ‘Pháp nà y do Thế Tôn giảng thuyết toà n thiện, cứu cánh, thường hằng, không biến đổi, được biết bởi chánh trí, được thấy bởi chánh trí, được chứng giác bởi chánh trí  [14]’. Người ấy sau khi niệm tưởng như vậy rồi, ác tham lam nếu có liền bị diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cÅ©ng bị diệt. Nà y Bà cư sÄ©, Đa văn Thánh đệ tá»­ duyên nÆ¡i pháp nên tâm tÄ©nh, được há»·; ác tham lam nếu có liền diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cÅ©ng bị diệt. CÅ©ng như một người trong mình có cấu ghét, nhờ bột tắm, nước nóng và sức người tắm gội kỹ cho nên được sạch sẽ. CÅ©ng vậy, Đa văn Thánh đệ tá»­ khi trì trai niệm tưởng Pháp rằng, ‘Pháp nà y do Thế Tôn giảng thuyết toà n thiện, cứu cánh, thường hằng, không biến đổi’. Người ấy sau khi niệm pháp như vậy rồi, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cÅ©ng được diệt. Nà y Bà cư sÄ©, Đa văn Thánh đệ tá»­ duyên nÆ¡i pháp cho nên tâm tÄ©nh, được há»·, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cÅ©ng được diệt. Nà y Bà cư sÄ©, đó gọi là Đa văn Thánh đệ tá»­ thọ trì pháp trai, cùng cộng hội với pháp, nhân pháp cho nên tâm tÄ©nh, được há»·, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, bất thiện nếu có cÅ©ng được diệt.

“Lại nữa, nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng Tăng rằng, ‘Tăng là đệ tử Thế Tôn, khéo thú hướng, chất trực, hà nh yếu, hà nh thú, trong Tăng chúng của Như Lai thật sự có A-la-hán thú, A-la-hán quả chứng, A-na-hà m thú, A-na-hà m quả chứng, Tư-đà -hà m thú, Tư-đà -hà m quả chứng, Tu-đà -hoà n thú, Tu-đà -hoà n quả chứng. Đó là bốn đôi, tám hạng Thánh sĩ. Đó là chúng tăng đệ tử của Thế Tôn, thà nh tựu giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, xứng đáng mời gọi, xứng đáng thỉnh, xứng đáng cúng dường, xứng đáng phụng sự, xứng đáng kính trọng, là ruộng phước là ruộng phước tốt cho trời và người [15] ’. Người đó sau khi niệm tưởng như vậy rồi, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi Tăng nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Cũng như một người nơi áo có cấu ghét, bất tịnh, nhờ tro, bột kết, bột giặt, nước nóng, sức người giặt giũ, nên nó được sạch sẽ như vậy. Cũng vậy, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng Tăng rằng, ‘Tăng là đệ tử Thế Tôn, khéo thú hướng, chất trực, hà nh yếu, hà nh thú, trong Tăng chúng của Như Lai thật sự có A-la-hán thú, A-la-hán quả chứng, A-na-hà m thú, A-na-hà m quả chứng. Tư-đà -hà m thú, Tư-đà -hà m quả chứng, Tu-đà -hoà n thú, Tu-đà -hoà n quả chứng. Đó là bốn đôi tám hạng Thánh sĩ, đó là Tăng chúng của Thế Tôn, thà nh tựu, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, xứng đáng mời gọi, xứng đáng thỉnh, xứng đáng cung kính, xứng đáng cúng dường, xứng đáng phụng sự, xứng đáng kính trọng, là ruộng phước tốt cho trời và người’. Người ấy niệm tưởng Tăng như vậy, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi tăng nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Đó gọi là Đa văn Thánh đệ tử thọ trì tăng trai, cùng tăng cộng hội, nhân tăng mà tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt.

“Lại nữa, nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai tư duy Giới mình đang thọ trì, không sứt, không thủng, không uế, không ô, rất rộng, rất lớn, không trông chờ báo đáp, được bậc trí khen ngợi, khéo trọn đủ, khéo thú hướng, khéo thọ, khéo trì. Người ấy sau khi niệm tưởng Giới mình đang thọ rồi, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi Giới, nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Cũng như một tấm gương bụi nhơ, không sáng, nhờ đá, đá mà i, ngọc oanh, và sức người lau chùi, mà i dũa mà được trong sáng. Cũng vậy, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng Giới mình đang thọ trì, không sứt, không thủng, không ô, không uế, rất rộng, rất lớn, không trông chờ báo đáp, được bậc trí khen ngợi, khéo trọn đủ, khéo thú hướng, khéo thọ, khéo trì. Người ấy sau khi niệm tưởng Giới mình đang thọ trì như vậy, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi Giới nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Đó gọi là Đa văn Thánh đệ tử thọ trì giới trai. Cùng Giới cộng hội, nhân Giới, tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt.

“Lại nữa, nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng chư Thiên rằng, ‘Thật sự có Tứ vương thiên. Hà ng Thiên ấy, nếu thà nh tựu tín, mạng chung nơi nà y được sanh nơi ấy. Tôi cũng có tín ấy. Hà ng Thiên ấy, nếu thà nh tựu giới, văn, thí, tuệ, mạng chung nơi nà y được sanh nơi ấy. Tôi cũng có tuệ ấy. Thật sự có Tam thập tam thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất-đà thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa lạc thiên. Hà ng Thiên ấy, thà nh tựu tín, mạng chung nơi nà y được sanh nơi ấy, tôi cũng có tín ấy. Hà ng Thiên ấy, nếu thà nh tựu giới, văn, thí, tuệ, mạng chung nơi nà y được sanh nơi ấy. Tôi cũng thà nh tựu tuệ ấy’. Người ấy sau khi niệm tưởng như vậy rồi, và chư Thiên có tín, giới, văn, thí, tuệ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Nà y Bà cư sĩ, Đa văn Thánh đệ tử duyên nơi chư Thiên nên tâm tĩnh, được hỷ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt. Cũng như và ng ròng thượng sắc, bị bụi đóng bất tịnh, nhờ lửa, bà i, kiềm, chùy, đất đỏ, sức người lau chùi mà i dũa mà được minh tịnh. Cũng vậy, Đa văn Thánh đệ tử khi trì trai niệm tưởng chư Thiên rằng ‘Thật sự có Tứ vương thiên. Hà ng Thiên ấy, nếu thà nh tựu tín, mạng chung nơi nà y được sanh nơi kia, tôi cũng có tín ấy. Hà ng Thiên ấy, nếu thà nh tựu giới, văn, thí, tuệ, mạng chung nơi nà y được sanh nơi kia, tôi cũng có tuệ ấy. Thật sự có Tam thập tam thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất-đà thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa lạc thiên. Hà ng Thiên ấy, nếu thà nh tựu tín, mạng chung nơi nà y được sanh nơi ấy. Tôi cũng thà nh tựu tín ấy. Hà ng Thiên ấy, nếu thà nh tựu giới, văn, thí, tuệ, mạng chung nơi nà y được sanh nơi ấy; tôi cũng thà nh tựu tuệ ấy’. Người ấy niệm tưởng như vậy, và chư Thiên có tín, giới, văn, thí, tuệ, ác tham lam nếu có liền được diệt, pháp tạp uế, ác bất thiện nếu có cũng được diệt.

“Nà y Bà cư sÄ©, nếu hà nh trì Thánh trai tám chi nà y như vậy và ở đây với mười sáu đại quốc nà y, một là Ương-già , hai là Ma-kiệt-đà , ba là Ca-thi, bốn là Câu-tát-la, năm là Câu-lâu, sáu là Ban-xà -la, bảy là A-nhiếp-bối, tám là A-hòa-đà n-đề, chín là Chi-đề, mười là Bạt-kỳ, mười một là Bạt-ta, mười hai là Bạt-la, mười ba là Tô-ma, mười bốn là Tô-ma-tra, mười lăm là Dụ-ni, mười sáu là Kiếm-phu. Trong các nước nà y những sở hữu tiền tà i, bảo vật, kim ngân, ma ni, chÆ¡n châu, lưu ly, tương-già [16], bích ngọc, san hô, lưu-thiệu  [17] , bệ-lưu[18] , bệ-lặc[19], mã não, đồi mồi, xích thạch, tuyền châu, và giả sá»­ một người là m vua trong đó, sẽ được xá»­ dụng tá»± tại, tùy ý. Nhưng người ấy so với người thọ trì Thánh trai tám chi hoà n toà n không bằng một phần mười sáu.

“Nà y Bà cư sĩ, Ta nhân đó mà nói như vầy, ‘Lạc thú của nhân vương không bằng lạc thú của chư Thiên’. Nếu nhân gian năm mươi năm, ở trên Tứ vương thiên mới là một ngà y một đêm. Như vậy ba mươi ngà y đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm. Năm trăm năm như vậy là tuổi thọ của Tứ vương thiên. Nà y Bà cư sĩ, tất có trường hợp nà y, là thiện nam tử hay thiện nữ nhân, thọ trì Thánh trai tám chi, thân hoại mạng chung sẽ sanh lên Tứ vương Thiên.

“Nà y Bà cư sĩ, do đó mà ta nói như vầy, ‘Lạc thú nhân vương không bằng lạc thú chư Thiên’. Nếu nhân gian sống một trăm tuổi, thì ở Tam thập tam thiên mới một ngà y một đêm. Như vậy ba mươi ngà y đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm và một nghìn năm như vậy là tuổi thọ của Tam thập tam thiên. Nà y Bà cư sĩ, tất có trường hợp nà y là thiện nam tử hay thiện nữ nhân, thọ trì Thánh trai tám chi nà y, khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh lên Tam thập tam thiên.

“Nà y Bà cư sĩ, Ta nhân đó mà nói như vầy, ‘Lạc thú nhân vương không bằng lạc thú chư Thiên’. Ở nhân gian hai trăm năm thì Diệm-ma thiên mới là một ngà y một đêm. Như vậy ba mươi ngà y đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm. Hai nghìn năm như vậy là tuổi thọ của Diệm-ma thiên. Nà y Bà cư sĩ, tất có trường hợp nà y, là thiện nam tử hay thiện nữ nhân thọ trì Thánh trai tám chi, khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh lên trên Diệm-ma thiên.

“Nà y Bà cư sĩ, ta nhân đó mà nói như vầy, ‘Lạc thú của nhân vương không bằng lạc thú của chư Thiên’. Nhân gian bốn trăm năm thì Đâu-suất-đà thiên mới là một ngà y một đêm. Như vậy, ba mươi ngà y đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm. Bốn ngà n năm như vậy là tuổi thọ của Đâu-suất-đà thiên. Nà y Bà cư sĩ, tất có trường hợp nà y, là thiện nam tử hay thiện nữ nhân thọ trì Thánh trai tám chi nà y, khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh lên Đâu-suất-đà thiên.

“Nà y Bà cư sĩ, Ta nhân đó mà nói như vầy, ‘Lạc thú nhân vương không bằng lạc thú chư Thiên’. Nhân gian sống tám trăm tuổi, thì Hóa lạc thiên mới là một ngà y một đêm. Như vậy ba mươi ngà y đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm, tám ngà n năm như vậy là tuổi thọ của Hóa lạc thiên. Nà y Bà cư sĩ, tất có trường hợp nà y, là thiện nam tử hay thiện nữ nhân thọ trì Thánh trai tám chi nà y, khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh lên Hóa lạc thiên.

“Nà y Bà cư sĩ, Ta nhân đó mà nói rằng, ‘Lạc thú của nhân vương không bằng lạc thú chư Thiên’. Nhân gian một ngà n sáu trăm năm, thì Tha hóa lạc thiên mới một ngà y một đêm. Như vậy ba mươi ngà y đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm, một vạn sáu ngà n năm như vậy là tuổi thọ của Tha hóa lạc thiên. Nà y Bà cư sĩ, tất có trường hợp nà y, là thiện nam tử hay thiện nữ nhân thì trì Thánh trai tám chi nà y, khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh lên Tha hóa lạc thiên.”

Lúc bấy giờ Lộc Tử Mẫu Tì-xá-khư chắp tay hướng về Đức Phật bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, Thánh trai tám chi thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, đại lợi, đại quả, có đại công đức, có đại quảng bố, con từ nay cho đến trọn đời xin thọ trì Thánh trai tám chi nà y, tùy theo năng lực mà bố thí tu phước.”

Rồi Lộc Tử Mẫu sau khi nghe những lời Phật dạy, khéo thọ trì, khéo tu tập, cúi đầu đảnh lỠchân Phật, đi quanh ba vòng rồi lui về.

Thế Tôn thuyết như vậy, Lộc Tử Mẫu Tì-xá-khư và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli: A.8.43. Visākhā-sutta. Biệt dịch No.87 Phật Thuyết Trai Kinh, Ngô, Chi Khiêm dịch; No.88 Ưu-ba-di Đọa-xá-ca Kinh, khuyết danh dịch; và 89 Phật Thuyết Bát Quan Trai Kinh, Lưu Tống, Trở Cừ Kinh Thanh dịch.
[02] Đông viên, Lộc tá»­ mẫu giảng đường 東 園 鹿 子 母 講 å ‚. Pāli: Pubbārāme Migāramātupāsāde.
[03] Lộc tử mẫu Tì-xá-khư 鹿 子 母 毗 舍 佉. Pāli: Visākhā Migāramātā.
[04] Nguyên Hán: Cư sÄ© phụ å± å£« 婦.
[05] Phóng ngưu nhi trai 放 牛 å ’ 齋. Pāli: gopālakÅ«posatha.
[06] Ni-kiền trai 尼 犍 齋. Pāli: Nigaṇṭhūposatha.
[07] Bỉ dụng thử dục bất dữ nhi dụng phi thị dữ dụng 彼 用 此 欲 不 與 而 用 非 是 與 用. Câu nà y không hiểu muốn nói gì. No.87, có đoạn có thể đối chiếu lại không có ý nghĩa quan hệ ngà y hôm sau, vẫn gọi nhau (là cha mẹ, con cái...) như cũ.
[08] Thánh bát chi trai 聖 å « 支 齋. Pāli: atthaá¹ ga samannāgato upasatho hay ariyÅ«posatha.
[09] Bản Hán có sự nhầm lẫn. Giới bát quan trai có thể tự phát nguyện trong một ngà y một đêm No.87 và bản Pāli cũng nói chỉ phát nguyện trong một ngà y một đêm. Pāli: yāvajīvaṃ arahanto pāṇātipātaṃ pahāya... ahaṃ pajja imañca rattiṃ imañca divasaṃ pāṇtipātaṃ pahāya..., A-la-hán trọn đời không sát sanh... tôi nay một ngà y một đêm không sát sanh...
[10] Câu chót nà y theo văn mạch bản Hán, phải hiểu lời kết của Phật. Nhưng theo bản Pāli nó nằm trong lời phát nguyện. Pāli: imināpaṠgena arahantaṃ anukaromi uposatho ca me upavuttho, “Tôi noi gương A-la-hán với chi nà y, tôi sẽ thọ trì trai giới”.
[11] Hán: Minh Hà nh Thà nh Vi. Pāli: vijjācara-sampanno.
[12] Đạo Pháp Ngự 道 法 御; bản Hán đọc Dhammasārathi (người đánh xe của Đạo pháp) và lược bỏ purisa (con người). Phật hiệu theo Pāli: Purisadammasārathi (vị đánh xe, hay hướng dẫn con người đã đươc huấn luyện): Điều ngự trượng phu.
[13] Chúng Hựu 眾 祐, tức Thế Tôn. Pāli: Bhagavā.
[14] Tư duy về Pháp bảo, đọc theo Pháp Uẩn (Đại 26, tr.462a) như vầy: “Phật Chánh pháp thiện thuyết hiện kiến, vô nhiệt, ứng thời, dẫn đạo, cận quán, trí giả nội chứng”.
[15] Tư duy về Tăng bảo, theo Pháp Uẩn (sđd., nt.) như vầy: “Phật đệ tử, cụ túc diệu hà nh, chất trực hà nh, như lý hà nh, pháp tùy pháp hà nh, hòa kỉnh hà nh, ở trong tăng nà y có Dự lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoà n hướng, Bất hoà n quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả. Như vậy tổng có bốn song tám bối Bổ-đặc-già -la. Phật đệ tử chúng giới cụ túc, ứng thỉnh, ứng khuất, ứng cung kính, vô thượng phước điền, thế sở ứng cúng”.
[16] Tương-già 儴 伽. Pāli: saṃkha, vỏ sò hay xa-cừ.
[17] Lưu-thiệu 留 邵, không rõ ngọc gì.
[18] Bệ-lưu 鞞 留, không rõ ngọc gì.
[19] Bệ-lặc 鞞 勒, không rõ ngọc gì.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]