Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
192. Kinh Ca-Lâu-Ô-Ðà -Di
193. Kinh Mâu-Lê-Phá-Quần-Na
194. Kinh Bạt-Ðá-Hòa-Lợi
195. Kinh A-Thấp-Bối
196. Kinh Châu-Na
197. Kinh Ưu-Bà -Ly
198. Kinh Điều Ngự Ðịa
199. Kinh Si Tuệ Ðịa
200. Kinh A-LÊ-TRA
201. Kinh Trà -Ðế
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

16. PHẨM ÐẠI
(Phần Sau)

192. KINH CA-LÂU-Ô-ĐÀ-DI[1]

Tôi nghe như vầy.

Một thời Phật du hóa trong nước Ương-già [02], cùng với đại chúng Tỳ-kheo, đến A-hòa-na [03] , ở tại tịnh xá Kiền-nhã.[04]

Bấy giờ sau khi đêm đã qua, và o buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y cầm bát đi và o A-hòa-na khất thực. Sau khi ăn xong, sau buổi trưa, Ngà i cất y bát, rửa tay chân, vắt ni-sư-đà n lên vai, đi đến một khu rừng để nghỉ trưa[05]. Tôn giả Ô-đà -di, cũng sau khi đêm đã qua, và o buổi sáng sớm, đắp y cầm bát và o thôn A-hòa-na khất thực. Sau khi ăn xong, sau buổi trưa, Tôn giả cất y bát, rửa tay chân, vắt ni-sư-đà n lên vai, đi theo hầu sau Phật mà nghĩ rằng, “Nếu Thế Tôn đi nghỉ trưa ở đâu, mình cũng đến nghỉ mát ở đó.”

Rồi Thế Tôn và o trong rừng, đến dưới một gốc cây, trải ni-sư-đà n mà ngồi kiết già . Tôn giả Ô-đà -di cũng đi và o khu rừng ấy, cách Phật không xa, đến dưới một gốc cây, trải ni-sư-đà n ngồi kiết già .

Bấy giờ Tôn giả Ô-đà -di, riêng một mình ngồi tĩnh tọa chỗ thanh vắng mà tư duy, trong tâm nghĩ rằng, ”Đức Thế Tôn là m lợi ích rất nhiều cho chúng ta. Đức Thiện Thệ mang lại sự an ổn rất nhiều cho chúng ta. Đức Thế Tôn trừ cho chúng ta các pháp khổ, là m tăng thêm pháp lợi ích an lạc cho chúng ta. Đức Thế Tôn trừ cho chúng ta vô lượng pháp ác, pháp bất thiện, là m tăng thêm vô lượng pháp thiện và vi diệu cho chúng ta.”

Và o lúc xế, Tôn giả Ô-đà -di từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lỠsát chân Phật, lui ngồi một bên. Đức Thế Tôn bảo rằng:

“Nà y Ô-đà -di, ông không thiếu thốn gì, được an ổn khoái lạc, sức khỏe vẫn như thường chăng?”

Tôn giả Ô-đà -di bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, con không thiếu thốn gì, an ổn khoái lạc, và sức khỏe vẫn như thường.”

Thế Tôn lại hỏi rằng:

“Nà y Ô-đà -di, vì sao ông không thiếu thốn, thường được an ổn, và sức khỏe vẫn như thường?”

Tôn giả Ô-đà -di đáp rằng:

“Bạch Thế Tôn, con riêng một mình ngồi tĩnh tọa chỗ thanh vắng mà tư duy, trong tâm nghĩ rằng, ‘Đức Thế Tôn là m lợi ích rất nhiều cho chúng ta. Đức Thiện Thệ mang lại sự an ổn rất nhiều cho chúng ta. Đức Thế Tôn trừ cho chúng ta các pháp khổ, là m tăng thêm pháp lợi ích an lạc cho chúng ta. Đức Thế Tôn trừ cho chúng ta vô lượng pháp ác, pháp bất thiện, là m tăng thêm vô lượng pháp thiện và vi diệu cho chúng ta.’

“Bạch Thế Tôn, khi xưa Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng, ‘Hãy dứt trừ việc ăn quá ngọ.’ [06] Bạch Thế Tôn, chúng con nghe rồi mà không kham không nhẫn, không muốn, không vui, mà nghĩ rằng, ‘Nếu có Phạm chí, Cư sĩ tín tâm đi đến chúng viên bố thí, tạo phước rộng rãi, chúng ta tự tay nhận lấy đồ ăn; nhưng Thế Tôn hôm nay dạy ta từ bỏ điều nà y; Đức Thiện Thệ dạy ta dứt tuyệt điều nà y.’ Chúng con lại nói như vầy, ‘Vị Đại Sa-môn ấy không tiêu hóa nổi đồ ăn.’ Nhưng chúng con đối với oai thần diệu đức của Thế Tôn, kính trọng, bất kham, cho nên chúng con chấm dứt việc ăn sau giờ ngọ.

“Lại nữa, khi xưa Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng, ‘Các ông hãy dứt trừ việc ăn tối.’ Bạch Thế Tôn, chúng con nghe rồi mà không kham, không nhẫn, không thích, không vui. Chúng con nghĩ rằng, ‘Trong hai bữa ăn rất tối thượng, tối diệu, tối thắng, tối mỹ mà Thế Tôn nay dạy ta chấm dứt cả.’ Chúng con lại nói rằng, ‘Vị Đại Sa-môn nà y không tiêu hóa nổi đồ ăn.’

“Bạch Thế Tôn, khi xưa có một cư sĩ mang rất nhiều đồ ăn thức uống ngon là nh trở về nhà , bảo người nhà rằng, ‘Các ngươi hãy lấy đồ ăn nà y đem cất một chỗ. Ta sẽ tụ tập mọi người để ăn ban đêm, không ăn buổi sáng và buổi trưa.’ Bạch Thế Tôn, nếu các nhà bà y soạn các món ăn rất ngon là nh thượng diệu, chỉ ăn trong ban đêm mà ta thì buổi sáng và buổi trưa, nhưng Thế Tôn nay dạy ta từ bỏ việc đó, Đức Thiện Thệ dạy ta dứt trừ việc đó.’ Nhưng chúng con đối với oai thần diệu đức của Thế Tôn, kính trọng bất kham, cho nên chúng con chấm dứt việc ăn ban đêm.

“Bạch Thế Tôn, con lại nghĩ rằng, ‘Nếu có Tỳ-kheo phi thời đi và o thôn ấp khất thực, hoặc có thể gặp kẻ đạo tặc đang hà nh sự hay chưa hà nh sự, hoặc gặp cọp, gặp nai, hoặc gặp cả cọp nai, hoặc gặp beo gặp gấu, hoặc gặp cả beo gấu, hoặc sống [07] ở những chỗ như vậy, hoặc gặp voi dữ, ngựa dữ, bò dữ, chó dữ, hoặc gặp ổ rắn, hoặc bị ném đất, hoặc bị gậy đánh, hoặc té và o mương rãnh, hoặc rơi và o hầm xí, hoặc cỡi lên bò đang nằm, hoặc lọt xuống hầm sâu, hoặc vướng và o bụi gai, xem xét thấy nhà trống mà bước và o nhà như vậy, khi và o trong đó rồi, người con gái thấy rủ rê là m việc bất tịnh hạnh xấu xa.

“Bạch Thế Tôn, xưa có một Tỳ-kheo trong đêm tối mịt, trời mưa lâm râm, chớp lóe như lửa xẹt, mà phi thời đi và o nhà người ta khất thực. Bấy giờ người đà n bà đi ngoà i rửa chén bát. Khi ấy người đà n bà nà y trong cơn chớp lóe, trông xa thấy Tỳ-kheo tưởng là quỷ. Thấy rồi, bà ta kinh hãi, lông tóc dựng ngược, thất thanh la lớn, tức thì ngả xuống [08], miệng nói rằng, ‘Ông là ma! Ông là ma!’ Tỳ-kheo mới nói với người đà n bà ấy rằng, ‘Nà y cô em, tôi không phải là ma đâu, tôi là Sa-môn đến khất thực.’ Bấy giờ người đà n bà ấy giận và mắng vị Tỳ-kheo rất nhức nhối, rất dữ dằn rằng, ‘Sa-môn hãy vong mạng cho lẹ đi! Bố mẹ Sa-môn hãy chết cho lẹ đi! Dòng họ Sa-môn hãy tuyệt diệt đi! Sa-môn hãy lòi ruột đi! Sa-môn trọc đầu, đen thui, tuyệt tự, không con cái! Hãy cầm dao bén mà tự mổ bụng đi! Chớ đừng đi khất thực phi thời ban đêm. Ôi chao! Tại Sa-môn mà tôi bị té!’ Bạch Thế Tôn, con nhớ vị ấy rồi tâm sanh hân hoan. Bạch Thế Tôn, con nhờ sự hân hoan nà y mà sung mãn châu thân, chánh niệm chánh trí, phát sanh hỷ, khinh an, lạc, định. Bạch Thế Tôn, con nhờ định nà y, sung mãn châu thân mà được chánh niệm chánh trí. Như vậy, bạch Thế Tôn, con không thiếu thốn gì, thường được an ổn, khoái lạc, khí lực bình thường.”

Thế Tôn khen rằng:

“Là nh thay! Là nh thay! Ô-đà -di, ông nay không phải như người ngu si kia, khi Ta nói với người ngu si ấy rằng, ‘Các ông hãy từ bỏ điều nà y’, thì nó nói rằng, ‘Đó là việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ. Nhưng nay Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ việc ấy. Thiện Thệ muốn ta dứt tuyệt việc ấy!’ Và nó cũng nói như vầy, ‘Vị Đại sa-môn nà y không tiêu hóa nổi đồ ăn’, rồi nó không từ bỏ. Không phải chỉ với Ta mà nó không vừa ý, không nhẫn thọ; đối với các Tỳ-kheo khéo giữ gìn giới, nó cũng không vừa ý, không nhẫn thọ. Nà y Ô-đà -di, người ngu si kia bị trói buộc rất cứng, rất chặt, cà ng lúc cà ng gắt gao không thể đoạn tuyệt, không thể giải thoát.

“Nà y Ô-đà -di, ví như có một con ruồi bị dính dưới bãi nước mũi. Nó ở trong đó hoặc khổ hoặc chết. Nà y Ô-đà -di, hoặc có người nói rằng: ”Con ruồi kia tuy bị dính mà không cứng, không chặt, không cà ng lúc cà ng gắt gao nên có thể đoạn tuyệt, có thể giải thoát, nói như vậy có đúng không?”

Ô-đà -di bạch rằng:

“Không đúng, bạch Thế Tôn! Vì sao? Vì con ruồi đã bị dính. Nó ở trong đó hoặc khổ hoặc bị chết. Thế nên, bạch Thế Tôn, con ruồi kia bị dính rất cứng, rất chặt, cà ng lúc cà ng gắt gao, không thể đoạn tuyệt, không thể giải thoát.”

“Nà y Ô-đà -di, người ngu si kia đuợc Ta bảo rằng ‘Các ngươi hãy từ bỏ điều nà y,’ thì nó nói như vầy, ‘Đó là việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ. Nhưng Thế Tôn nay dạy ta phải từ bỏ việc ấy! Thiện Thệ muốn ta từ bỏ việc ấy!’ Và nó cũng nói như vầy, ‘Vị Đại Sa-môn nà y không tiêu hóa nổi đồ ăn.’ Rồi nó không từ bỏ. Không chỉ đối với Ta nó không vừa ý, không nhẫn thọ, mà chúng đối với các Tỳ-kheo khéo giữ gìn giới, nó cũng không vừa ý, không nhẫn thọ. Nà y Ô-đà -di, người ngu si kia bị trói rất cứng, rất chặt, cà ng lúc cà ng gắt gao, không thể đoạn tuyệt, không thể giải thoát. Nà y Ô-đà -di, nếu có một thiện gia nam tử được Ta bảo rằng, ‘Ngươi hãy từ bỏ điều nà y,” thì người ấy không nói như vầy, ‘Đó là việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ. Nhưng Thế Tôn nay dạy ta từ bỏ việc ấy! Thiện Thệ muốn ta từ bỏ!” và cũng không nói như vầy, ‘Vị Đại Sa-môn nà y không tiêu hóa nổi đồ ăn.’ Rồi người ấy từ bỏ. Người ấy đối với Ta không sanh tâm không vừa ý, không nhẫn thọ, và đối với các Tỳ-kheo khéo giữ gìn giới, cũng không sanh tâm không vừa ý, không nhẫn thọ. Nà y Ô-đà -di, thiện gia nam tử ấy không bị trói cứng, không chắc, không cà ng lúc cà ng gắt gao, có thể đoạn tuyệt, có thể giải thoát.

“Nà y Ô-đà -di, ví như con voi chúa tuổi đến sáu mươi, sẽ thà nh một ma-ha-năng-già [09] kiêu ngạo, đủ ngà đủ vóc, gân sức tráng kiện, nó bị trói chặt, nhưng nó nỗ lực chuyển mình, sự trói chặt kia liền bị bức, và nó trở về chỗ cũ. Nà y Ô-đà -di, nếu có người nói như vầy, ‘Con voi chúa to lớn kia tuổi đến sáu mươi, đã thà nh một ma-ha-năng-già kiêu ngạo, đủ ngà đủ vóc, gân sức tráng kiện, nó bị trói chặt, cà ng lúc cà ng gắt gao, không thể đoạn tuyệt, không thể giải thoát được.’ Nói như vậy có đúng không?”

Tôn giả Ô-đà -di bạch rằng:

“Không đúng, bạch Thế Tôn! Vì sao? Vì con voi chúa to lớn kia tuổi đến sáu mươi, đã thà nh một ma-ha-năng-già kiêu ngạo, đủ ngà đủ vóc, gân cốt tráng kiện, bị trói chặt, nhưng nó nỗ lực cựa mình, sự trói chặt kia liền bị bứt và nó trở về chỗ cũ. Bạch Thế Tôn, cho nên con voi chúa to lớn kia, tuổi đến sáu mươi, đã trở thà nh một ma-ha-năng-già kiêu ngạo, gân cốt tráng kiện, sự trói buộc kia không chặt, không cà ng lúc cà ng gắt gao, có thể đoạn tuyệt, có thể giải thoát.”

“Cũng như vậy, nà y Ô-đà -di, với thiện gia nam tử kia, Ta khuyên rằng, ‘Ngươi hãy từ bỏ điều nà y’, người ấy không nói như vầy, ‘Đó là việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ! Nhưng Thế Tôn nay dạy ta từ bỏ! Thiện Thệ muốn ta từ bỏ!” Và cũng không nói như vầy, ‘Vị Đại Sa-môn nà y không tiêu hóa nổi đồ ăn’ và người ấy liền từ bỏ. Không chỉ đối với Ta vị ấy không sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận mà đối với những Tỳ-kheo khéo giữ gìn giới cũng không sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận. Nà y Ô-đà -di, thiện gia nam tử ấy bị trói không chặt, không cứng, không cà ng lúc cà ng gắt gao, có thể đoạn tuyệt, có thể giải thoát. Nà y Ô-đà -di, với người ngu si mà Ta khuyên dạy rằng, ‘Ngươi hãy từ bỏ điều nà y’, người ấy sẽ nói như vầy, ‘Đó là việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ. Nhưng Thế Tôn nay dạy ta từ bỏ! Thiện Thệ muốn ta từ bỏ!” và cũng nói như vầy, ‘Vị Đại Sa-môn nà y không tiêu hóa nổi đồ ăn’ rồi nó không chịu từ bỏ. Không chỉ đối với Ta nó sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận mà đối với các Tỳ-kheo giữ giới cẩn thận, nó cũng sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận. Nà y Ô-đà -di, người ngu si kia bị trói chặt cứng, rất chặt, cà ng lúc cà ng gắt gao, không thể đoạn tuyệt, không thể giải thoát.

“Nà y Ô-đà -di, ví như người nghèo khổ, không có của cải, cũng không có thế lực; người ấy có một người vợ mà cặp mắt bị mù, lại xấu xí, không khả ái; chỉ có một cái nhà đổ nát, mưa dột, chim quạ bu đến đậu, tệ không thể ở. Lại có một cái giường bị gãy sập, tệ không thể nằm; có một cái lu bị thủng không dùng được. Người ấy thấy vị Tỳ-kheo sau khi ăn xong, rửa sạch chân, trải ni-sư-đà n ngồi dưới một gốc cây mát mẻ điều hòa mà tu tập tăng thượng tâm. Người ấy thấy vậy trong tâm nghĩ rằng ‘Sa-môn thật là khoái lạc, Sa-môn như Niết-bà n. Ta thật là xấu xa vô đức. Vì sao? Vì ta có một người vợ mà cặp mắt bị mù, lại xấu xí, không khả ái, nhưng không thể bỏ; chỉ có một cái nhà đổ nát, mưa dột, chim quạ bu đến đậu, tệ không thể ở, nhưng cũng không thể bỏ. Lại có một cái giường bị gãy sập, tệ không thể nằm; có một cái lu bị thủng không dùng được nhưng cũng không thể bỏ. Ta ưa thích Tỳ-kheo, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo. Nà y Ô-đà -di, nếu có người nói như vầy, ‘Người nghèo khổ kia không có tiền của cũng không có thế lực, mà bị trói buộc không cứng không chặt, không cà ng lúc cà ng gắt gao, có thể đoạn tuyệt có thể giải thoát, nói như vậy có đúng chăng?”

Tôn giả Ô-đà -di đáp:

“Không đúng, bạch Thế Tôn! Vì sao? Vì người nghèo khổ kia không có tiền của cũng không có thế lực, có một người vợ mà cặp mắt bị mù, lại xấu xí, không khả ái, nhưng không thể bỏ; chỉ có một cái nhà đổ nát, mưa dột, chim quạ bu đến đậu, tệ không thể ở, nhưng cũng không thể bỏ. Lại có một cái giường bị gãy sập, tệ không thể nằm; có một cái lu bị thủng không dùng được nhưng cũng không thể bỏ. Dù người ấy ưa thích như vị Tỳ-kheo, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo. Bạch Thế Tôn, thế cho nên người nghèo khổ kia, không có tiền của cũng không có thế lực, bị trói rất cứng, rất chặt, cà ng lúc cà ng gắt gao không thể đoạn tuyệt cũng không thể giải thoát được.”

“Cũng vậy, nà y Ô-đà -di, nếu có người ngu si mà Ta khuyên rằng ‘Ngươi hãy từ bỏ điều ấy, người ấy lại nói rằng ‘Đó là việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ. Nhưng Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ! Thiện Thệ dạy ta phải từ bỏ!” Và cũng nói ‘Vị Đại Sa-môn nà y không tiêu hóa đồ ăn.’ Rồi người ấy không đoạn trừ. Nó không chỉ đối với Ta sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận, mà đối với các Tỳ-kheo giữ gìn giới hạnh cẩn thận, nó cũng sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận. Nà y Ô-đà -di, thế cho nên người ngu si kia bị trói rất cứng, rất chặt, cà ng lúc cà ng gắt gao, không thể đoạn trừ, không thể giải thoát. Nà y Ô-đà -di, nếu một thiện gia nam tử mà Ta khuyên rằng ‘Ngươi hãy từ bỏ điều nà y,’ người ấy không nói như vầy ‘Ấy là việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ. Nhưng Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ! Thiện Thệ dạy ta phải từ bỏ!” Và cũng không nói ‘Vị Đại Sa-môn nà y không tiêu hóa đồ ăn.’ Rồi người ấy đoạn trừ. Người không chỉ đối với Ta không sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận, mà đối với các Tỳ-kheo giữ gìn giới hạnh cẩn thận, nó cũng không sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận. Nà y Ô-đà -di, thế cho nên thiện gia nam tử kia bị trói không cứng, không chặt, không cà ng lúc cà ng gắt gao, có thể đoạn trừ, có thể giải thoát.

“Nà y Ô-đà -di, ví như cư sĩ, con cư sĩ, rất già u có, sung sướng, rất nhiều tiền của, sản nghiệp súc mục không thể tính được, phong hộ thực ấp, lúa gạo, bao nhiêu những nhu dụng sinh sống đều rất đầy đủ. Nô tỳ, voi ngựa thôi thì không kể. Người ấy thấy vị Tỳ-kheo sau khi ăn xong, rửa tay chân, trải ni-sư-đà n ngồi dưới một gốc cây mát mẽ điều hòa mà tu tập tăng thượng tâm. Thấy vậy người ấy nghĩ rằng ‘Sa-môn thật là khoái lạc, Sa-môn như Niết-bà n. Ta nên từ bỏ sự già u sang sung sướng, và ng bạc châu báu, voi ngựa, nô tỳ, hâm mộ là m Tỳ-kheo, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo!’ Nà y Ô-đà -di, có người lại nghĩ rằng ‘Người cư sĩ, con người cư sĩ kia bị trói rất cứng, rất chặt, cà ng lúc cà ng gắt gao, không thể đoạn trừ, không được giải thoát.’ Nói như vậy có đúng không?”

Tôn giả Ô-đà -di bạch rằng:

“Không đúng, bạch Thế Tôn! Vì sao? Vì người cư sĩ hay con người cư sĩ kia có thể xa lìa, vứt bỏ sự già u sang, phú quý, và ng bạc châu báu, lúa gạo, voi ngựa, nô tỳ để là m Tỳ-kheo, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo. Bạch Thế Tôn, thế cho nên người cư sĩ hay con người cư sĩ kia bị trói không cứng chặt, không cà ng lúc cà ng gắt gao, có thể đoạn trừ, có thể giải thoát được.”

“Cũng như vậy, nà y Ô-đà -di, nếu một thiện gia nam tử mà Ta khuyên rằng ‘Ngươi hãy từ bỏ điều nà y,’ người ấy không nói như vầy ‘Ấy là việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ. Nhưng Thế Tôn dạy ta phải từ bỏ! Thiện Thệ dạy ta phải từ bỏ!” Và cũng không nói ‘Vị Đại Sa-môn nà y không tiêu hóa đồ ăn.’ Rồi người ấy đoạn trừ. Người không chỉ đối với Ta không sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận, mà đối với các Tỳ-kheo giữ gìn giới hạnh cẩn thận, nó cũng không sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận. Nà y Ô-đà -di, thế cho nên thiện gia nam tử kia bị trói không cứng, không chặt, không cà ng lúc cà ng gắt gao, có thể đoạn trừ, có thể giải thoát.

“Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo hà nh xả [10]. Vị ấy hà nh xả rồi, phát sanh suy niệm tương ưng với dục [11], bị ái lạc rà ng buộc. Vị ấy ham thích nó, không đoạn, không trụ [12], không nhả bỏ. Nà y Ô-đà -di, Ta nói đó là trói buộc, không nói là giải thoát. Vì sao? Vì các kết sử là bất thiện. Ô-đà -di, vì kết sử là bất thiện, cho nên Ta nói đó là trói buộc, không nói là giải thoát.

“Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo hà nh xả; vị ấy hà nh xả rồi, phát sanh suy niệm tương ưng với dục, bị ái lạc rà ng buộc. Vị ấy không ham thích nó, nhưng đoạn, trụ, nhả bỏ. Nà y Ô-đà -di, Ta nói đó cũng là trói buộc, không phải là giải thoát. Vì sao? Vì các kết sử là bất thiện. Nà y Ô-đà -di, vì kết sử bất thiện [13], cho nên Ta nói là trói buộc, không nói là giải thoát.

“Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo hà nh xả; vị ấy hà nh xả rồi, thỉnh thoảng ý lãng quên, song hà nh với suy niệm tương ưng với dục, bị ái lạc rà ng buộc, sự quán chậm nhưng bị diệt nhanh [14]. Nà y Ô-đà -di, ví như hòn sắt hay lưỡi cà y sắt trọn ngà y bị đốt, nếu có người nhỏ lên đó hai hoặc ba giọt nước, nhỏ chậm, không liên tục nước bèn tiêu tan mau chóng. Nà y Ô-đà -di, cũng vậy, Tỳ-kheo hà nh xả; vị ấy hà nh xả rồi thỉnh thoảng quên lãng, song hà nh với niệm tương ưng dục, bị ái lạc rà ng buộc, sự quán chậm bị diệt nhanh. Nà y Ô-đà -di, Ta nói như thế là trói buộc không phải là giải thoát. Vì sao? Vì các kết sử là bất thiện. Nà y Ô-đà -di, vì kết sử bất thiện cho nên Ta nói là trói buộc, không nói là giải thoát.

“Nà y Ô-đà -di, cùng ở nơi gốc rỠcủa khổ, mà du hà nh không sanh tử, ở nơi vô thượng ái tận mà thiện tâm giải thoát [15]. Nà y Ô-đà -di, Ta nói là giải thoát, không nói là trói buộc. Vì sao? Vì các kết sử đã chấm dứt. Nà y Ô-đà -di, vì các kiết sử đã chấm dứt cho nên Ta nói là giải thoát không nói là trói buộc.

“Nà y Ô-đà -di, có sự an lạc không phải là thánh lạc mà là phà m phu lạc, là gốc rỠcủa bệnh hoạn, gốc rỠcủa mụt nhọt, gốc rỠcủa gai nhọn, có thức ăn [16], có sanh tử, không nên tu, không nên tập hà nh, không nên phát triển. Ta nói đối với sự lạc ấy không nên tu tập. Nà y Ô-đà -di, có sự lạc gọi là thánh lạc, là sự lạc vô dục, lạc viỠn ly, lạc tịch tịnh, lạc chánh giác, không có thức ăn, không sanh tử, nên tu, nên tập hà nh, nên phát triển. Ta nói đối với sự lạc ấy nên tu tập.

“Nà y Ô-đà -di, thế nà o gọi là sự lạc không phải là thánh lạc mà là phà m phu lạc, là gốc rỠcủa bệnh hoạn, gốc rỠcủa mụt nhọt, là gốc rỠcủa tên dâm, có thức ăn, có sanh tử, không nên tu, không nên tập hà nh, không nên phát triển, Ta nói đối với sự lạc ấy không nên tu tập? Nếu nhân nơi ngũ dục mà sanh lạc, sanh hỷ, đó là sự lạc không phải là thánh lạc, mà là phà m phu lạc, là gốc rỠcủa bệnh hoạn, gốc rỠcủa mụt nhọt, gốc rỠcủa gai nhọn, có thức ăn, có sanh tử, không nên tu tập, không nên tập hà nh, không nên phát triển, Ta nói đối với sự lạc ấy không nên tu tập.

“Nà y Ô-đà -di, thế nà o là có sự lạc được gọi là thánh lạc? Đó là sự lạc vô dục, lạc viỠn ly, lạc tịch tĩnh, lạc chánh giác, không có thức ăn, không sanh tử, nên tu, nên tập hà nh, nên phát triển, Ta nói đối với sự lạc ấy nên tu tập.

“Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chứng đắc đệ Tứ thiền, thà nh tựu và an trụ. Đó là sự lạc được gọi là thánh lạc, là sự lạc vô dục, lạc viỠn ly, lạc tịch tịnh, lạc chánh giác, không thực, không sanh tử, nên tu, nên tập hà nh, nên phát triển. Ta nói đối với sự lạc ấy nên tu tập.

“Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục phát sanh, chứng đắc Sơ thiền thà nh tựu an trú. Thánh nói đó là di động. Trong đó những gì mà Thánh nói là di động? Trong đó có giác có quán nên Thánh nói là di động.

“Trong đây những gì mà Thánh nói là di động? Nầy Ô-đà -di, Tỳ-kheo giác quán tịch tịnh, nội tâm tĩnh chỉ, nhất tâm, không giác, không quán, có hỷ lạc do định sanh, chứng đắc Nhị thiền, thà nh tựu và an trụ. Đó là điều mà Thánh nói là di động. Trong đó những gì mà Thánh nói là di động? Nếu đạt được hỷ nà y Thánh nói là di động.

“Trong đây những gì mà Thánh nói là di động? Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo xả ly hỷ dục, xả, vô cấu, an trụ chánh niệm, chánh trí thân cảm giác lạc, điều mà Thánh nói là Thánh xả, niệm, an trú lạc, [17] chứng đắc đệ Tam thiền, thà nh tựu và an trụ. Đó là điều mà Thánh nói là di động. Trong đó những gì mà Thánh nói là di động? Vì có tâm lạc [18] nên Thánh nói là di động.

“Trong đây những gì mà Thánh nói là không di động? Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo lạc diệt, khổ diệt, hỷ ưu vốn đã diệt, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc Tứ thiền, thà nh tựu và an trú. Đó là điều mà Thánh nói là không di động.

“Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền thà nh tựu và an trụ. Nà y Ô-đà -di, ở đây Ta nói chưa được hoà n toà n, chưa đạt đến đoạn trừ, không đạt đến sự quá độ. Trong đó những gì là quá độ? Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo giác quán đã dứt, nội tĩnh, nhất tâm, không giác không quán, hỷ lạc do định sanh, đạt đến Nhị thiền, thà nh tựu và an trụ. Đấy là sự quá độ, được nói đến trong đó. Nà y Ô-đà -di, Ta nói đây cũng chưa đạt được hoà n toà n, không đạt đến sự đoạn trừ, không đạt đến sự quá độ [19]. Vậy trong đó những gì là quá độ? Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo ly hỷ dục, xả, an trú vô cầu, chánh niệm chánh trí, thân cảm thọ lạc, điều mà Thánh gọi là Thánh xả, niệm, an trụ lạc, chứng đắc đệ Tam thiền, thà nh tựu và an trú. Đây là sự quá độ được nói đến trong đó. Nà y Ô-đà -di, Ta nói ở đây cũng chưa được hoà n toà n, không đạt đến đoạn trừ, không đạt đến sự quá độ. Vậy trong đó những gì là quá độ? Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo lạc diệt, khổ diệt, hỷ và ưu vốn đã diệt, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, đạt đến cõi Tứ thiền, thà nh tựu và an trú. Đây là sự quá độ được nói đến trong đó. Nà y Ô-đà -di, Ta nói đó cũng chưa được hoà n toà n, không đạt đến sự đoạn trừ, không đạt đến sự quá độ. Vậy trong đó những gì là quá độ? Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo vượt qua khỏi tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không tư duy đến bất cứ loại tưởng nà o, nhập vô lượng không, chứng vô lượng không xứ, thà nh tựu và an trú. Đây là sự quá độ được nói đến trong đó. Nà y Ô-đà -di, Ta nói đó cũng chưa đạt được hoà n toà n, không đạt đến sự đoạn trừ, không đạt đến sự quá độ. Vậy trong đó những gì là quá độ? Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng không xứ, nhập vô lượng thức, chứng vô lượng thức xứ, thà nh tựu và an trú. Đây là sự quá độ được nói đến trong đó. Nà y Ô-đà -di, Ta nói đó cũng chưa đạt được hoà n toà n, không đạt đến sự đoạn trừ, không đạt đến sự quá độ. Vậy trong đó những gì là quá độ? Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo vượt qua tất cả vô lượng thức xứ, nhập vô sở hữu, chứng đắc vô sở hữu xứ, thà nh tựu và an trụ. Đây là sự quá độ được nói đến trong đó. Nà y Ô-đà -di, Ta nói đó cũng chưa được hoà n toà n, không đạt đến sự đoạn trừ, không đạt đến sự quá độ. Vậy trong đó những gì là quá độ? Nà y Ô-đà -di, Tỳ-kheo nhập qua tất cả vô sở hữu xứ, nhập phi hữu tưởng, phi vô tưởng, chứng phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thà nh tựu và an trú. Đây là sự quá độ được nói đến trong đó. Nà y Ô-đà -di, Ta nói cho đến phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ cũng chưa được hoà n toà n, không đạt đến đoạn trừ, không đạt đến sự quá độ.

“Nà y Ô-đà -di, có chăng một kết sử nà o, hoặc ít hoặc nhiều tồn tại lâu dà i mà Ta nói chưa được hoà n toà n, không đạt đến đoạn trừ, không đạt đến sự quá độ; kết sử ấy Ta nói không đoạn trừ?”

Tôn giả Ô-đà -di bạch rằng:

“Không có, bạch Thế Tôn!”

Thế Tôn khen rằng:

“Là nh thay! Là nh thay! Nà y Ô-đà -di, ông không phải như người ngu si kia khi Ta khuyên rằng ‘Ngươi hãy từ bỏ điều nà y’ người ấy lại nói rằng ‘Đó là việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ. Nhưng Thế Tôn nay bảo ta phải từ bỏ! Thiện Thệ bảo ta phải từ bỏ! Và cũng nói rằng ‘Vị Đại Sa-môn nà y không tiêu hóa nổi đồ ăn’ rồi người ấy không chịu từ bỏ. Không chỉ đối với Ta người ấy sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận; mà đối với các Tỳ-kheo giữ gìn giới hạnh cẩn thận người ấy cũng sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận. Nà y Ô-đà -di, thế cho nên người ngu si kia bị trói rất cứng, rất chặt, cà ng lúc cà ng gắt gao, không thể đoạn trừ, không giải thoát được.

“Nà y Ô-đà -di, nếu có thiện gia nam tử nà o mà Ta khuyên rằng: ‘Ngươi hãy từ bỏ điều nà y’, người ấy không nói như vầy ‘Đó là việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ. Nhưng Thế Tôn nay bảo ta phải từ bỏ! Thiện bảo ta phải từ bỏ!’ Và cũng không nói như vầy ‘Vị Đại Sa-môn nà y không tiêu hóa nổi đồ ăn.’ Rồi người ấy liền từ bỏ. Người ấy đối với Ta không sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận, và đối với các Tỳ-kheo giữ gìn giới cẩn thận vị ấy cũng không sanh tâm không vừa ý, không chấp nhận. Nà y Ô-đà -di, thế cho nên thiện nam tử kia bị trói không cứng không chặt, không cà ng lúc cà ng gắt gao, có thể đoạn trừ, có thể giải thoát.”

Phật thuyết như vậy. Tôn giả Ô-đà -di sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Bản Hán, quyển 50. Tương đương Pāli, N.66 Laṭukikopama-suttaṃ.
[02] Ương-già 鴦 伽. Pāli: Anga, một trong mười sáu đại quốc phía đông Magadha, cách con sông Campa. Bản Pāli: AṠgauttarāpesu.
[03] A-hòa-na 阿 惒 那. Pāli: Āpana, một thị trấn ở trong AṠguttarāpa, một bộ phận của nước AṠga.
[04] Kiền-nhã 犍 若. Pāli: Keniya; dịch là ”Chúng tụ”, Phiên Phạn Ngữ 10 No.2026, Đại 54 tr.1041b).
[05] Trú kinh hà nh 晝 經 行. Pāli: divāvihāra, “an trú ban ngà y” tức nghỉ ngà y, hay nghỉ trưa, không phải kinh hà nh đi bộ.
[06] Quá trung thực 過 中 食. Pāli: divāvikālabhojanam: ăn phi thời ban ngà y.
[07] Vãng 往, Tống-Nguyên-Minh: trú 住.
[08] Đọa thần 墮 å¨ , xẩy thai; Tống-Nguyên-Minh: đọa thân 墮 身.
[09] Ma-ha-năng-già ; Pāli: mahānāga. Bản Pāli: rañño nāgo, con voi của vua.
[10] Hà nh xả 行 捨. Pāli: upadhipahānāya paṭipannaṃ, hướng đến đoạn trừ hữu dư y, thực hà nh để xả trừ sanh y (hữu y).
[11] Dục tương ưng niệm 欲 相 應 念; Pāli: upadhipaṭisaṃyuttā sarasaṃkappā, những niệm tưởng và tư duy liên hệ chặt với sanh y.
[12] Bất trụ, ở đây nên hiểu là ”là m cho không tồn tại”; Pāli: anabhāvaṃ gameti.
[13] Pāli: indriyavemattatā hi me... viditā, Ta nói, có sự sai biệt về căn tánh.
[14] Trì quán tốc diệt 遲 觀 速 æ» . Pāli: dandho... satuppādo... namṃ khippameva pajahati, niệm khởi lên chậm nhưng bị đoạn tuyệt nhanh.
[15]Pāli: upadhi dukkhassa mūlan ti viditvā iti norupadhi hoti upadhisaṃkhaye vimutto, sanh y là gốc rỠcủa khổ; sau khi biết như vậy, trở thà nh không sanh y, giải thoát với sự diệt tận của sanh y.
[16] Thực, đồng nghĩa với duyên; xem kinh 52 trên.
[17] Tống-Nguyên-Minh: lạc trụ không 樂 住 空. Bản Cao-li: lạc trụ thất 室. Pāli: sukhavihāra, an trú nơi lạc.
[18] Tâm lạc. Pāli: upekhāsukham, xả và lạc.
[19] Quá độ. Pāli: samatikkama, sự vượt qua.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]