Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
21. Kinh Đẳng Tâm
22. Kinh Thà nh Tựu Giới
23. Kinh Trí
24. Kinh Sư Tử Hống
25. Kinh Thủy Dụ
26. Kinh Cù-Ni-Sư
27. Kinh Phạm Chí Ðà -Nhiên
28. Kinh Giáo Hóa Bịnh
29. Kinh Đại Câu-Hi-La
30. Kinh Tương Tích Dụ
31. Kinh Phân Biệt Thánh Ðế
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

1. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG

22. KINH THÀNH TỰU GIỚI[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ, Tôn giả Xá-lê Tử nói với các Tỳ-kheo rằng:

“Nếu Tỳ-kheo thà nh tựu giới, thà nh tựu định, thà nh tựu tuệ thì ngay trong đời hiện tại mà ra và o định tưởng tri diệt[02]; tất có trường hợp nà y. Nếu ngay trong đời hiện tại mà không chứng được cứu cánh trí[03], khi thân hoại mạng chung, vượt qua khỏi trời Đoà n thực[04], sanh lên các cõi trời Ý sanh[05], tại các cõi ấy mà ra và o định tướng tri diệt; tất có trường hợp nà y”.

Lúc đó Tôn giả Ô-đà -di[06] cũng hiện diện trong đại chúng. Tôn giả Ô-đà -di nói rằng:

“Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, nếu Tỳ-kheo sanh lên các cõi trời ý sanh khác, mà ra và o định tưởng tri diệt; hoà n toà n không có trường hợp ấy”.

Tôn giả Xá-lê Tử ba lần lặp lại, nói với các Tỳ-kheo rằng:

“Nếu Tỳ-kheo thà nh tựu giới, thà nh tựu định, thà nh tựu tuệ thì ngay trong đời hiện tại mà ra và o định tưởng tri diệt; tất có trường hợp nà y. Nếu ngay trong đời hiện tại mà không chứng được cứu cánh trí, khi thân hoại mạng chung, vượt qua khỏi trời Đoà n thực, sanh lên các cõi trời Ý sanh, tại các cõi ấy mà ra và o định tướng tri diệt; tất có trường hợp nà y”.

Tôn giả Ô-đà -di cũng ba lần lặp lại, thưa rằng:

“Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, nếu Tỳ-kheo sanh lên các cõi trời Ý sanh khác, mà ra và o định tưởng tri diệt; hoà n toà n không có trường hợp ấy”.

Lúc đó Tôn giả Xá-lê Tử liền suy nghĩ như thế nà y: “Thầy Tỳ-kheo nà y cho đến ba lần bác lời ta nói, và cũng không có vị Tỳ-kheo nà o tán thán lời ta nói. Vậy ta hãy đi đến Đức Thế Tôn”.

Rồi Tôn giả Xá-lê Tử đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lỠrồi ngồi xuống một bên.

Sau khi Tôn giả Xá-lê Tử ra đi chẳng bao lâu, Tôn giả Ô-đà -di cũng đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lỠrồi ngồi xuống một bên.

Nơi đây, Tôn giả Xá-lê Tử lại nói với các Tỳ-kheo rằng:

“Nếu Tỳ-kheo thà nh tựu giới, thà nh tựu định, thà nh tựu tuệ thì ngay trong đời hiện tại mà ra và o định tưởng tri diệt; tất có trường hợp nà y. Nếu ngay trong đời hiện tại mà không chứng được cứu cánh trí, khi thân hoại mạng chung, vượt qua khỏi trời Đoà n thực, sanh lên các cõi trời Ý sanh, tại các cõi ấy mà ra và o định tưởng tri diệt; tất có trường hợp nà y”.

Tôn giả Ô-đà -di lại thưa rằng:

“Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, nếu Tỳ-kheo sanh lên các cõi trời Ý sanh khác, mà ra và o định tưởng tri diệt; hoà n toà n không có trường hợp ấy”.

Tôn giả Xá-lê Tử ba lần lặp lại, nói với các Tỳ-kheo rằng:

“Nếu Tỳ-kheo thà nh tựu giới, thà nh tựu định, thà nh tựu tuệ thì ngay trong đời hiện tại mà ra và o định tưởng tri diệt; tất có trường hợp nà y. Nếu ngay trong đời hiện tại mà không chứng được cứu cánh trí, khi thân hoại mạng chung, vượt qua khỏi trời Đoà n thực, sanh lên các cõi trời Ý sanh, tại các cõi ấy mà ra và o định tướng tri diệt; tất có trường hợp nà y”.

Tôn giả Ô-đà -di cũng ba lần lặp lại, thưa rằng:

“Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, nếu Tỳ-kheo sanh lên các cõi trời Ý sanh khác, mà ra và o định tưởng tri diệt; hoà n toà n không có trường hợp ấy”.

Tôn giả Xá-lê Tử suy nghĩ thế nà y: “Thầy Tỳ-kheo nà y ở trưóc Đức Thế Tôn, lặp lại ba lần bác lời ta nói, cũng không có vị Tỳ-kheo nà o tán thán lời ta nói; vậy ta nên im lặng”.

Lúc ấy Đức Thế Tôn hỏi rằng:

“Nà y Ô-đà -di, ngươi cho Ý sanh thiên là sắc chăng?”[07]

Tôn giả Ô-đà -di bạch Đức Thế Tôn rằng:

“Quả thật như vậy, bạch Thế Tôn”.

Đức Thế Tôn liền khiển trách:

“Ngươi là người ngu si mờ tối, không có mắt, bằng và o những gì mà có thể luận bà n về A-tỳ-đà m thâm sâu[08]?”

Bấy giờ Tôn giả Ô-đà -di sau khi bị Thế Tôn quở mắng lòng dạ u sầu, cúi đầu im lặng, không còn lời lẽ để biện luận, như có điều suy nghĩ.

Đức Thế Tôn sau khi quở mắng Tôn giả Ô-đà -di rồi, nói Tôn giả A-nan rằng:

“Khi một Tỳ-kheo trưởng lão là bậc danh đức thượng tôn mà bị người khác cật vấn, tại sao ngươi bỏ mặc, không chiếu cố? Ngươi, là người ngu si, không có lòng từ, quay lưng lại với bậc trưởng lão thượng tôn danh đức”.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn sau khi quở mắng Tôn giả Ô-đà -di và Tôn giả A-nan, bèn nói với các Tỳ-kheo rằng:

“Nếu Tỳ-kheo thà nh tựu giới, thà nh tựu định, thà nh tựu tuệ thì ngay trong đời hiện tại mà ra và o định tưởng tri diệt; tất có trường hợp nà y. Nếu ngay trong đời hiện tại mà không chứng được cứu cánh trí, khi thân hoại mạng chung, vượt qua khỏi trời Đoà n thực, sanh lên các cõi trời ý sanh, tại các cõi ấy mà ra và o định tưởng tri diệt; tất có trường hợp nà y”.

Đức Thế Tôn nói như vậy xong liền và o tịnh thất im lặng tĩnh tọa. Bấy giờ Tôn giả Bạch Tịnh[09] đang hiện diện trong đại chúng. Tôn giả A-nan thưa với Tôn giả Bạch Tịnh rằng:

“Đó là việc là m của vị khác mà tôi bị quở mắng. Thưa Tôn giả Bạch Tịnh, và o xế chiều Thế Tôn rời khỏi tịnh thất mà đến trước chúng Tỳ-kheo, trải tòa ngồi, để cùng thảo luận vấn đề nà y. Tôn giả Bạch Tịnh, ngà i nên trả lời việc nà y. Tôi rất thẹn với Đức Thế Tôn và các vị phạm hạnh”.

Bấy giờ và o lúc xế chiều, Đức Thế Tôn từ thiền thất đi ra, đến trước chúng Tỳ-kheo, trải chỗ mà ngồi, rồi Ngà i bảo rằng:

“Nà y Bạch Tịnh, Tỳ-kheo trưởng lão có mấy pháp để được các vị phạm hạnh kính mến, tôn trọng?”

Tôn giả Bạch Tịnh thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão nếu có năm pháp sẽ được các vị phạm hạnh khác tôn trọng, kính mến.

“Những gì là năm?

“Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão tu tập các giới cấm, thủ hộ biệt giải thoát luật nghi[10], lại còn khéo thâu nhiếp các oai nghi lỠtiết[11], thấy những tội lỗi nhỏ nhặt cũng thường sanh tâm lo sợ, thọ trì học giới. Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn có cấm giới ấy sẽ được các vị phạm hạnh kính mến tôn trọng.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão học rộng, nghe nhiều, ghi nhớ không quên, tích lũy kiến thức rộng rãi; những pháp nà o mà khoảng đầu hoà n hảo, khoảng giữa hoà n hảo, khoảng cuối cùng hoà n hảo, có nghĩa lý, có văn từ, hiển hiện phạm hạnh, thanh tịnh trọn đủ, vị ấy học rộng nghe nhiều các pháp như vậy, học tập nhuần nhuyỠn cả ngà n lần, tâm ý tư duy quán sát, thấy rõ rà ng và hiểu thấu sâu xa. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn đa văn ấy sẽ được các vị phạm hạnh kính mến tôn trọng.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn có bốn tâm tăng thượng[12], sống an lạc trong đời hiện tại[13], dỠđược chớ không khó. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn có thiền tư ấy sẽ được các vị phạm hạnh kính mến tôn trọng.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão tu hà nh trí tuệ, quán sát sự hưng khởi và suy tà n của các pháp[14], chứng đắc như thật trí[15], được sự sáng suốt của Thánh tuệ, phân biệt rõ rà ng, chân chánh dứt hết khổ. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn có trí tuệ sẽ được các vị phạm hạnh kính mến tôn trọng.

“Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão đã dứt sạch các lậu, không còn kết sử, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời hiện tại tự tri, tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu và an trụ, ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’. Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn đã lậu tận ấy sẽ đưọc các vị phạm hạnh kính mến tôn trọng”.

Đức Thế Tôn hỏi rằng:

“Nà y Bạch Tịnh, nếu vị Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn không có năm pháp nà y, thì do nghĩa nà o để cho các vị phạm hạnh kính mến tôn trọng?”

Tôn giả Bạch Tịnh thưa:

“Bạch Thế Tôn, nếu vị Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn không có pháp nà y, thì thật không còn điều nà o khác hơn để cho các vị phạm hạnh kính mến tôn trọng. Chỉ còn lấy sự già nua, tóc bạc, răng rụng, sức khỏe ngà y cà ng suy tà n, thân còm chân vẹo, cơ thể nặng nề, hơi thở đưa lên, chống gậy mà đi, thịt teo, da nhăn, xù xì như cây gai, các căn rời rụng, nhan sắc xấu xí. Vị ấy nhân những điều nà y được các vị phạm hạnh kính mến, tôn trọng”.

Đức Thế Tôn bảo rằng:

“Quả thật như vậy, quả thật như vậy, nếu Tỳ-kheo trưởng lão thượng tôn mà không có năm pháp nà y, thì thật không còn điều kiện nà o khác hơn để cho các vị phạm hạnh kính mến tôn trọng. Chỉ còn lấy sự già nua, tóc bạc, răng rụng, sức khỏe ngà y cà ng suy tà n, thân còm chân vẹo, cơ thể nặng nề, hơi thở đưa lên, chống gậy mà đi, thịt teo, da nhăn, xù xì như cây gai, các căn rời rụng, nhan sắc xấu xí. Vị ấy nhân những điều nà y được các vị phạm hạnh kính mến, tôn trọng.

“Nà y Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử có đủ năm pháp nà y, các ngươi phải kính mến tôn trọng. Vì sao thế?

“Nà y Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử tu tập các giới cấm, thủ hộ biệt giải thoát luật nghi, lại còn khéo thâu nhiếp các oai nghi lỠtiết, thấy những tội lỗi nhỏ nhặt cũng thường sanh tâm lo sợ, thọ trì học giới.

“Lại nữa, nà y Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử học rộng, nghe nhiều, ghi nhớ không quên, tích lũy kiến thức rộng rãi; những pháp nà o mà khoảng đầu hoà n hảo, khoảng giữa hoà n hảo, khoảng cuối cùng hoà n hảo, có nghĩa lý, có văn từ, hiển hiện phạm hạnh, thanh tịnh trọn đủ; học rộng nghe nhiều các pháp như vậy, học tập nhuần nhuyỠn cả ngà n lần, tâm ý tư duy quán sát, thấy rõ rà ng và hiểu thấu sâu xa.

“Lại nữa, nà y Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử có bốán tâm tăng thượng, sống an lạc trong đời hiện tại, dỠđược chớ không khó.

“Lại nữa, nà y Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử tu hà nh trí tuệ, quán sát sự hưng khởi và suy tà n của các pháp, chứng đắc như thật trí, được sự sáng suốt của Thánh tuệ, phân biệt rõ rà ng, chân chánh dứt hết khổ.

“Lại nữa, nà y Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử đã dứt sạch các lậu, không còn kết sử, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời hiện tại tự tri, tự giác, tự tác chứng, thà nh tựu và an trụ, ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần là m đã là m xong, không còn tái sanh nữa’.

“Nà y Bạch Tịnh, Tỳ-kheo Xá-lê Tử thà nh tựu năm pháp nà y, các ngươi nên kính mến tôn trọng”.

Đức Phật thuyết như vậy. Tôn giả Bạch Tịnh và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli: A. V.166 Nirodha.
[02] Tưởng tri diệt định 想 知 æ» å®š. Pāli: sañīavedayitanirodha-samāpatti. CÅ©ng nói là tưởng thọ diệt tận định, hay diệt tận định.
[03] Hán: đắc cứu cánh trí 得 究 竟 智, chỉ chứng đắc A-la-hán quả. Pāli: aññā-ārādhānā.
[04] Đoà n thực thiên 摶 食 天. Pāli: Kabalīkārāhārabhakkha-devatā.
[05] Ý sanh thiên 意 生 天. Pāli: manomaya-kāya-devatā.
[06] Ô-đà -di 烏 陀 夷. Pāli: Udayī.
[07] Pāli: Bhagavā (...): kaṃ pana tvaṃ Udāyi manomayaṃ kāyaṃ paccesī ti? Ye te bhante devā ārupino saññāmayā ti, Thế Tôn hỏi: ‘Nà y Udāyi, ngươi muốn hiểu thân do ý thức tạo thà nh là cái gì?’ – ‘Bạch Thế Tôn, Đó là chư Thiên thuộc Vô sắc do tưởng tạo thà nh’.
[08] Thậm thâm A-tì-đà m 甚 深 阿 毗 曇; bản Pāli tương đương không đề cập ý tưởng nà y.
[09] Bạch Tịnh 白 淨. Pāli: Upavāṇa.
[10] Xem cht.12 kinh 21.
[11] Hán: thiện nhiếp oai nghi lỠtiết 善 攝 威 儀 禮 節. Pāli: ācāragocarasampanno, đầy đủ oai nghi chánh hạnh.
[12] Tứ tăng thượng tâm 四 增 上 心. Pāli: catunnaṃ jhānānaṃābhicetasikānaṃ, bốn thiền, thuộc tăng thượng tâm.
[13] Hán: hiện pháp lạc cư (=trú) 現 法 樂 å± . Pāli: diá¹­á¹­hadhammasukhavihāra.
[14] Hán: quán hưng suy pháp 觀 興 衰 法.
[15] Hán: đắc như thị trí 得 如 是 智.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]