Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
107. Kinh Lâm (I)
108. Kinh Lâm (II)
109. Kinh Tự Quán Tâm (I)
110. Kinh Tự Quán Tâm (II)
111. Kinh Đạt Phạm Hạnh
112. Kinh A-Nô-Ba
113. Kinh Chư Pháp Bổn
114. Kinh Ưu-Ðà -La
115. Kinh Mật Hoà n Dụ
116. Kinh Cù-Ðà m-Di
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

10. PHẨM LÂM

110. KINH TỰ QUÁN TÂM (II)[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Nếu có Tỳ-kheo không thiện xảo quán tâm người khác, hãy thiện xảo tự quán sát tâm của chính mình. Nên học như vậy.

“Thế nà o gọi là Tỳ-kheo thiện xảo quán tự tâm? Tỳ-kheo nếu có quán nà y, chắc chắn được nhiều lợi ích.‘Ta thường hà nh tham lam hay thường hà nh không tham lam[02]? Ta thường hà nh tâm sân nhuế hay thường hà nh tâm không sân nhuế? Ta thường hà nh thùy miên triền hay thường hà nh không thùy miên triền? Ta thường hà nh trạo hối, cống cao hay thường hà nh không trạo hối, cống cao? Ta thường hà nh nghi hoặc hay thường hà nh không nghi hoặc? Ta thường hà nh thân tránh[03] hay thường hà nh không thân tránh? Ta thường hà nh tâm ô uế hay thường hà nh tâm không ô uế? Ta thường hà nh tín hay thường hà nh bất tín? Ta thường hà nh tinh tấn hay thường hà nh giải đãi? Ta thường hà nh suy niệm hay thường hà nh không suy niệm? Ta thường hà nh tâm định hay thường hà nh tâm không định? Ta thường hà nh ác tuệ hay thường hà nh không ác tuệ?’

“Nếu Tỳ-kheo khi quán liền biết, ‘Ta thường hà nh tham lam, tâm sân nhuế, thùy miên triền, trạo hối, cống cao, nghi hoặc, thân tránh, tâm ô uế, bất tín, giải đãi, không suy niệm, không tâm định, thường hà nh ác tuệ’. Tỳ-kheo ấy muốn diệt trừ pháp ác bất thiện nà y phải nhanh chóng tìm cầu phương tiện, học tập, tinh cần, chánh niệm, chánh trí, kham nhẫn, đừng để bị thoái chuyển.

“Ví như bị lửa đốt cháy đầu, cháy áo, nhanh chóng tìm cầu phương tiện cứu đầu, cứu áo. Cũng vậy, Tỳ-kheo muốn diệt trừ pháp ác bất thiện nà y phải nhanh chóng tìm cầu phương tiện, học tập, tinh cần, chánh niệm, chánh trí, kham nhẫn, đừng để bị thoái chuyển.

“Nếu Tỳ-kheo khi quán liền biết, ‘Ta thường hà nh không tham lam, tâm không sân nhuế, không thùy miên triền, không trạo hối cống cao, không nghi hoặc, không thân tránh, tâm không ô uế, tín, tinh tấn, suy niệm, định, thường hà nh không ác tuệ’. Tỳ-kheo ấy trụ nơi pháp thiện nà y rồi, hãy nên mong cầu tự thân chứng ngộ lậu tận trí thông.

“Vì sao vậy? Ta nói, không được cất chứa tất cả y nhưng cũng nói được quyền cất chứa tất cả y áo. Loại y nà o Ta nói không được cất chứa? Nếu cất chứa y áo mà tâm tăng trưởng pháp ác bất thiện, suy thoái pháp thiện, y áo như vậy Ta nói không được cất chứa. Loại y nà o Ta nói được quyền cất chứa? Nếu cất chứa y áo mà tăng trưởng pháp thiện, suy thoái pháp ác bất thiện, y áo như vậy Ta nói được quyền cất chứa”. Cũng như y áo, về uống ăn, giường chõng, thôn ấp cũng giống như vậy.

“Ta nói không được quen thân tất cả mọi người, nhưng cũng nói được quen thân tất cả mọi người. Người thế nà o mà Ta nói không được quen thân? Nếu quen thân người mà tăng trưởng pháp ác bất thiện, suy thoái pháp thiện, người như vậy Ta nói không được quen thân. Người thế nà o mà Ta nói được quyền quen thân? Nếu quen thân người, liền tăng trưởng pháp thiện, suy thoái pháp ác bất thiện, người như vậy Ta nói được quyền quen thân.

“Vị ấy biết đúng như thật pháp nên tập hà nh, cũng biết đúng như thật pháp không nên tập hà nh. Vị ấy biết đúng như thật pháp nên tập hà nh và pháp không nên tập hà nh rồi, pháp không nên tập hà nh thì không tập hà nh, pháp nên tập hà nh liền tập hà nh. Vị ấy không tập hà nh pháp không nên tập hà nh, tập hà nh pháp nên tập hà nh rồi, liền tăng trưởng pháp thiện, suy thoái pháp ác bất thiện.

“Như vậy gọi là Tỳ-kheo khéo tự quán tâm, khéo tự biết tâm, khéo thủ, khéo xả”.

Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli, A. 10. 51 Sacitta.
[02] Đa hà nh tăng tứ 多 行 增 伺. Pāli: abhijjahlū bahulaṃ viharāmi, ta sống nhiều tham lam chăng?
[03] Thân tránh 身 諍. Pāli: sāraddhakāyo, cử chỉ thô bạo, nóng nảy

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]