Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
117. Kinh Nhu Nhuyến
118. Kinh Long Tượng
119. Kinh Thuyết Xứ
120. Kinh Thưyết Vô Thường
121. Kinh Thỉnh Thỉnh
122. Kinh Chiêm-Ba
123. Kinh Sa-Môn Nhị Thập Ức
124. Kinh Bát Nạn
125. Kinh Bần Cùng
126. Kinh Hà nh Dục
127. Kinh Phước Ðiền
128. Kinh Ưu-Bà -Tắc
129. Kinh Oán Gia
130. Kinh Giáo
131. Kinh HÃ ng Ma
132. Kinh Lại-Tra-Hòa-La
133. Kinh Ưu-Bà -Ly
134. Kinh Thích Vấn
135. Kinh Thiện Sanh
136. Kinh Thương Nhân Cầu Tà i
137. Kinh Thế Gian
138. Kinh Phước
139. Kinh Tức Chỉ Ðạo
140. Kinh Chí Biên
141. Kinh Dụ
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

11. PHẨM ÐẠI
(Phần Ðầu)

127. KINH PHƯỚC ĐIỀN[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ, Cư sĩ Cấp Cô Độc đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lỠsát chân Phật rồi ngồi xuống một bên, thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn, ở đời có bao nhiêu hạng người phước điền[02]?”

Đức Thế Tôn dạy:

“Nà y Cư sĩ, ở đời có hai hạng người phước điền. Những hạng người nà o là hai? Một là hạng học nhân[03], hai là hạng vô học nhân[04].

“Hạng hữu học có mười tám, hạng vô học có chín.

“Nà y Cư sĩ, mười tám hạng người hữu học là những ai? Là tín hà nh, pháp hà nh, tín giải thoát, kiến đảo, thân chứng[05], gia gia[06], nhất chủng, hướng Tu-đà -hoà n, đắc Tu-đà -hoà n; hướng Tư-đà -hà m, đắc Tư-đà -hà m; hướng A-na-hà m, đắc A-na-hà m, trung Bát-niết-bà n, sanh Bát-niết-bà n, hà nh Bát-niết-bà n, vô hà nh Bát-niết-bà n, thượng lưu sắc cứu cánh[07]. Đó là mười tám hạng hữu học.

“Nà y Cư sĩ, chín hạng người vô học là những ai? Tư pháp, thăng tấn pháp, bất động pháp, thối pháp, bất thối pháp, hộ pháp, hộ tắc bất thối bất hộ tắc thối[08], thật trụ pháp, tuệ giải thoát, câu giải thoát. Đó là chín hạng vô học[09].”

Khi ấy Đức Thế Tôn nói tụng:

Học, vô học trong đời,
Đáng tôn, đáng phụng kính;
Các ngà i tu chánh thân,
Miệng, ý cũng chánh hạnh.
Ruộng tốt cho tại gia,
Cúng dường được phước lớn.

Phật thuyết như vậy. Cư sĩ Cấp Cô Độc và các Tỳ-kheo, sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01]  Tương đương Pāli A.2.4.4 Dakkhiṇeyya (Samacittavaggo). Hán, biệt dịch, No.99 (992).
[02] Phước điền nhân 福 田 人. Pāli: dakkhiṇeyya, người xứng đáng được cúng dường.
[03] Học nhân 學 人, chỉ các bậc Thánh dưới A-la-hán quả, vì còn phải học. Pāli: sekha.
[04] Vô học nhân 無 學 人, chỉ vị đắc quả A-la-hán, không cần phải học nữa. Pāli: asekha.
[05] Tín hà nh, hay Tùy tín hà nh; Pháp hà nh hay Tùy pháp hà nh; Tín giải thoát hay Tín thắng giải; Kiến đáo hay Kiến chí và Thân chứng. Xem Kinh số 195.
[06] Gia gia å®¶ å®¶ (Pāli: Kolaá¹ kola), những vị chứng quả Dá»± lưu (Sotāpanna) phải thọ sanh từ nhân gian lên thiên thượng hay từ thiên thượng xuống nhân gian, trước khi chứng đắc Niết-bà n. Nhất chá»§ng 一 種 (Pāli: EkabÄ«ja), những vị chứng quả Dá»± lưu chỉ tái sanh một lần trước khi đắc Niết-bà n. Cả hai hạng nà y thuộc Nhất lai hướng hay Tư đà hà m hướng (Sakadāgāmimagga), tức từ Dá»± lưu quả hướng đến Nhất lai quả.
[07] Năm hạng A-na-hà m (NgÅ© bất hoà n 五 不 還) xem Tập Dị 14 (Đại 26, trang 425 c-26 c): 1. Trung Bát-niết-bà n (Pāli: antaraparinibbāyi), nhập Niết-bà n ngay sau khi vừa thác sanh lên Tịnh cư thiên (Niết-bà n với thân trung hữu, theo Hữu bộ); 2. Sanh bát Niết-bà n (Pāli: upahacca-parinibhāyi): thác sanh Tịnh cư thiên một thời gian mới nhập Niết-bà n; 3. Hữu hà nh Bát-niết-bà n (Pāli: sasaá¹ khāra-parinibbāyÄ«): thác sanh thượng giới, tinh tấn tu tập mới nhập Niết-bà n; 4. Vô hà nh Bát-niết-bà n (Pāli: asaá¹ khāra-parinibhāyÄ«): không cần tinh tấn tu tập nữa; 5. Thượng lưu sắc cứu caùnh (Pāli: uddhaṃsota-akanittha-gāmÄ«), lần lượt tái sinh qua các cõi từ sÆ¡ thiền, cho đến tầng cao nhất cá»§a Sắc giới, nhập Niết-bà n tại đó.
[08] Äá»‘i chiếu với sáu hạng A-la-hán trong luận Câu-xá 25 (No.2026, Đại 26, trang 129a, tt.): 1. Thối pháp (thối bất thối), gặp nghịch duyên bị sụt xuống các bậc Thánh thấp hÆ¡n; 2. Tư pháp, mong cầu Vô dư Niết-bà n cấp thời vì sợ thối thất; 3. Hộ pháp (hộ tắc bất thối, bất hộ tắc thối), do thá»§ hộ mà không bị thối thất; 4. An trụ pháp (thật trụ), không bị chi phối nghịch duyêân để thối thất, nhưng không tiến tới; 5. Kham đạt pháp (thăng tiến), có khả năng tiến tới bất động tánh. 6. Bất động tánh căn cÆ¡ mãnh lợi, không bị chi phối bởi bất cứ duyên gì.
[09] Bản Pāli và No.99 (992) không đề cập đến các chi tiết, chỉ nói đại cương hai hạng phước điền và bà i tụng.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]