Thư mục BuddhaSasana

Lưu ý: Đọc với phông chữ CN-Times nâng cấp hay Arial Unicode MS


 

Trung A HÃ m Kinh
Mục Lục Tổng Quát
01. PHẨM BẢY PHÁP
02. PHẨM NGHIỆP TÆ¯Æ NG ƯNG
03. PHẨM XÁ-LÊ TỬ TÆ¯Æ NG ƯNG
04. PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP
05. PHẨM TẬP TÆ¯Æ NG ƯNG
06. PHẨM VÆ¯Æ NG TÆ¯Æ NG ƯNG
07. PHẨM TRƯỜNG THỌ VÆ¯Æ NG
08. PHẨM UẾ
09. PHẨM NHÂN
10. PHẨM LÂM
11. PHẨM ĐẠI (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần đầu)
12. PHẨM PHẠM CHÍ (Phần sau) 
13. PHẨM CĂN BỔN PHÂN BIỆT
14. PHẨM TÂM
15. PHẨM SONG
16. PHẨM ĐẠI (Phần sau)
17. PHẨM BÔ-ĐA-LỢI
18. PHẨM LỆ
212. Kinh Nhất Thiết Trí
213. Kinh Pháp Trang Nghiêm
214. Kinh Bệ-Ha-Đề
215. Kinh Đệ Nhất Ðắc
216. Kinh Ái Sanh
217. Kinh Bát Thà nh
218. Kinh A-Na-Luật-Đà (I)
219. Kinh A-Na-Luật-Đà (II)
220. Kinh Kiến
221. Kinh TiỠn Dụ
222. Kinh Lệ

 

Source: LotusMedia lotusmedia.net
 
中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

18. PHẨM LỆ

215. KINH ĐỆ NHẤT ĐẮC[01]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:

“Trong cảnh giới nà o giáo lệnh của Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la có thể ban hà nh đến, trong đó Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la là đệ nhất. Tuy vậy, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la cũng lệ thuộc sự biến dịch, thay đổi. Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy ắt phải sanh ra nhà m tởm cái đệ nhất ấy. Nhà m tởm rồi, đối với cái đệ nhất còn không ham muốn, huống nữa là cái hạ tiện.

“Những cảnh giới mà ánh sáng cá»§a mặt trời, mặt trăng chiếu đến, những phương được chiếu đến, tức Thế giới ngà n [02]. Trong Thế giới ngà n nà y, có một ngà n mặt trời, một ngà n mặt trăng, một ngà n châu Phất-vu-đãi  [03], một ngà n châu Diêm-phù  [04], một ngà n châu Câu-đà -ni [05], một ngà n châu Uất-đơn-việt [06], một ngà n Tu di sÆ¡n [07], một ngà n Tứ đại vương thiên[08], một ngà n Tứ thiên vương tá»­[09], một ngà n Tam thập tam thiên [10], một ngà n Thích Thiên Nhân-đà -la [11], một ngà n Diệm-ma thiên [12] , một ngà n Tu-diệm-ma thiên tá»­  [13], một ngà n Đâu-suất-đà thiên[14], một ngà n Đâu-suất-đà thiên tá»­, một ngà n Hóa lạc thiên  [15], một ngà n Thiện hóa lạc thiên tá»­ [16], một ngà n Tha hóa lạc thiên [17], một ngà n Tá»± tại thiên tá»­  [18], một ngà n Phạm thế giới[19]   , và một ngà n Biệt phạm. Trong đó có Phạm Đại Phạm, là đấng Phú há»±u, là Tạo hóa tôn, là tổ phụ các loà i chúng sanh, đã sanh và sẽ sanh [20] . Nhưng Đại Phạm ấy cÅ©ng là lệ thuộc biến dịch, lệ thuộc sá»± thay đổi. Đa văn Thánh đệ tá»­ quán sát như vậy, ắt phải nhà m tởm cái đệ nhất ấy. Nhà m tởm rồi, đối với cái đệ nhất không ham muốn huống là cái hạ tiện.

“Một thời gian sau, khi thế giới nà y hủy diệt. Khi thế giới nà y hủy diệt, chúng sanh lên cõi trời Hoảng dục [21] . Trong ấy chỉ có sắc nương theo ý mà sanh[22 ], các chi thể đầy đủ không thiếu, các căn không bị hư hoại, nuôi sống bằng hỷ thực[23], hình sắc thanh tịnh, thân chiếu sáng, phi hà nh trong hư không, sống ở đó một thời gian lâu dà i. Nhưng cõi trời Hoảng dục cũng lệ thuộc biến dịch, lệ thuộc sự thay đổi. Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy, ắt phải sanh ra nhà m tởm sự ấy. Nhà m tởm rồi, đối với cái đệ nhất còn không muốn, huống nữa là cái hạ tiện.

“Lại nữa, có bốn sá»± tưởng  [24] . Tỳ-kheo suy tưởng về tưởng nhỏ, tưởng lớn, về tưởng vô lượng và tưởng vô sở hữu. Chúng sanh đó thắng ý nÆ¡i lạc tưởng như vậy [25] cÅ©ng lệ thuộc và o sá»± biến dịch, lệ thuộc và o thay đổi. Đa văn Thánh đệ tá»­ quán sát như đệ nhất còn không muốn, huống nữa là cái hạ tiện.

“Lại có tám trừ xứ [26] . Thế nà o là tám? Tỳ-kheo bên trong có sắc tưởng, bên ngoà i quán sắc lượng nhỏ hoặc sắc đẹp, hoặc sắc xấu, đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến    [27], tưởng như vậy được gọi là đệ nhất thắng xứ.

“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong có sắc tưởng, bên ngoà i có quán sắc vô lượng, hoặc sắc đẹp, hoặc sắc xấu, đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ nhị thắng xứ.

“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không có sắc tưởng, bên ngoà i quán sắc lượng nhỏ, hoặc sắc đẹp hoặc sắc xấu. Đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ tam thắng xứ.

“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoà i quán sắc vô lượng, hoặc sắc đẹp, hoặc sắc xấu. Đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ tứ thắng xứ.

“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoà i quán sắc hoặc xanh, mà u xanh, ánh sáng xanh. Cũng như hoa thanh thủy [28] xanh, mà u xanh, ánh sáng xanh. Cũng như áo bằng lụa Ba-la-nại được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, sắc sáng tươi mát, hoặc xanh, mà u xanh, ánh sáng xanh. Cũng vậy, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoà i quán các sắc hoặc xanh, mà u xanh, ánh sáng xanh. Vô lượng, vô lượng tịnh ý, nhuận ý, ái lạc, không ghê tởm. Đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ ngũ thắng xứ.

“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoà i quán các sắc, hoặc và ng, mà u và ng, ánh sáng và ng. CÅ©ng như hoa tần-đầu-ca-la   [29] và ng, mà u và ng, ánh sáng. CÅ©ng như chiếc áo bằng thứ lụa Ba-la-nại được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, sắc sáng tươi mắt, và ng, mà u và ng, ánh sáng và ng. CÅ©ng vậy, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoà i quán các sắc, hoặc và ng, mà u và ng, ánh sáng và ng; vô lượng, vô lượng tịnh ý, nhuận ý, ái lạc, không ghê tởm. Đối với các sắc ấy đã thắng tri đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ lục thắng xứ.

“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoà i quán các sắc hoặc đỏ, mà u đỏ, ánh sáng đỏ. Cũng như hoa Ca-ni-ca-la (28) mà u đỏ, đỏ hiển, đỏ hiện, đỏ quang. Cũng như chiếc áo bằng thứ lụa Ba-la-nại được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, sắc sáng tươi mát, đỏ, mà u đỏ, ánh sáng đỏ. Cũng vậy, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoà i quán các sắc, hoặc đỏ, mà u đỏ, ánh sáng đỏ, vô lượng, vô lượng tịnh ý, nhuận ý, ái lạc, không ghê tởm. Đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến. Tưởng như vậy được gọi là đệ thất thắng xứ.

“Lại nữa, Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoà i quán các sắc, hoặc trắng, mà u trắng, ánh sáng trắng. Cũng như sao Thái bạch mà u trắng, mà u trắng, ánh sáng trắng. Cũng như chiếc áo bằng lụa Ba-la-nại, được giặt, được vỗ, được nhồi, được vò kỹ cho đến sạch tinh, sắc sáng tươi mát, trắng, mà u trắng, ánh sáng trắng. Cũng vậy Tỳ-kheo bên trong không sắc tưởng, bên ngoà i quán các sắc, trắng, mà u trắng, ánh sáng trắng, vô lượng, vô lượng tịnh ý, nhuận ý, ái lạc không ghê tởm. Đối với các sắc ấy đã thắng tri, đã thắng kiến, tưởng như vậy được gọi là đệ bát thắng xứ.

“Chúng sanh có thắng ý nơi lạc thắng xứ như vậy, cũng lệ thuộc và o sự biến dịch. Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy ắt sanh nhà m tởm sự ấy. Nhà m tởm rồi, đối với cái đệ nhất còn không muốn, huống nữa là cái hạ tiện.

“Lại nữa, có Mười biến xứ[30]. Thế nà o là mười? Các Tỳ-kheo tu tập nơi một biến xứ đất, tư duy trên, dưới, các phương là không hai, vô lượng. Tu tập nơi một biến xứ nước, một biến xứ lửa, một biến xứ gió, một biến xứ xanh, một biến xứ và ng, một biến xứ đỏ, một biến xứ trắng, một biến xứ hư không, một biến xứ thức là thứ mười. Tu tập một biến xứ, tư duy trên, dưới, các phương là không hai, vô lượng. Nhưng các chúng sanh có thắng ý nơi biến xứ lạc nà y cũng lệ thuộc và o sự biến dịch, lệ thuộc sự thay đổi. Đa văn Thánh đệ tử quán tưởng như vậy ắt sanh ra nhà m tởm sự ấy. Nhà m tởm rồi, đối với cái đệ nhất còn không muốn, huống nữa là cái hạ tiện.

“Và đây là thuyết thanh tịnh đệ nhất, là sự thi thiết tối đệ nhất, tức là ‘Ta không có, ta không hiện hữu [31] ’ và để chứng đắc điều nà y mà thiết lập nơi đạo.

“Và đây là đệ nhất ngoại y kiến xứ, tối ý kiến xứ  [32], tức là vượt qua tất cả sắc tưởng, cho đến chứng phi hữu tưởng, phi vô tưởng, thà nh tá»±u an trụ [33]

“Và đây là đệ nhất thú hướng, Niết-bà n ngà y trong hiện tại, là thi thiết tối thượng về Niết-bà n ngay trong hiện tại [34] tức là sáu xúc xứ [35] với sự khởi tập, hoại diệt, vị ngọt, tai hoạn và xuất ly được thất như thật bằng tuệ.

“Lại nữa, có bốn đoạn [36] Thế nà o là bốn? Có sự đoạn mà lạc chậm [37], có sự đoạn mà lạc nhanh, có sự đoạn mà khổ chậm, có sự đoạn mà khổ nhanh. Trong đó sự đoạn mà lạc chậm là lạc đưa đến đoạn trừ chạâm chạp [38] cho nên nói là lạc kém. Trong đó, sự đoạn mà lạc nhanh, là lạc đưa đến đoạn trừ một cách mau chóng [39] Cho nên đoạn nà y cũng được nói là thấp kém.

“Trong đó, sự đoạn mà khổ chậm [40] là khổ đưa đến đoạn trừ một cách chậm chạp, cho nên đoạn nà y cũng được nói là thấp kém.

“Trong đó, sự đoạn mà khổ nhanh, là khổ đưa đến đoạn trừ một cách mau chóng. Cho nên đoạn nà y không phải là sự tiến triển, không được lưu bố. Cho đến chư Thiên và Nhân loại cũng không tán thán và phát triển.

“Sự đoạn [41] của ta được phát triển, được lưu bố cho đến chư Thiên và Nhân loại cũng tán thán và phát triển.

“Thế nà o là sự đoạn của Ta được phát triển, được lưu bố cho đến chư Thiên và Nhân loại cũng tán thán, lưu bố? Đó là Thánh đạo tám chi, chánh kiến cho đến chánh định là tám.

“Ta như vậy [42] Nhưng các Sa-môn, Phạm chí, hư ngụy, nói láo, bất thiện, không chân thật, xuyên tạc, và hủy báng Ta rằng, ‘Quả thật có chúng sanh, nhưng lại chủ trương sự đoạn hoại. Sa-môn Cù-đà m chủ trương hư vô [43] ’. Quả thật có chúng sanh mà chủ trương sự đoạn hoại, nếu không, Ta sẽ không thuyết giảng như vậy. Như Lai ngay trong đời hiện tại đã vĩnh viỠn đoạn trừ tất cả mà chứng đắc Niết-bà n tịch tịnh, diệt tận [44]“

Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hà nh.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli. A.10.29 Kosala.
[02] Thiên thế giới 千 世 界. Pāli: sahassadhā-loka = sahassīlokadhātu.
[03] Phất-vu-đãi 弗 于 逮, hay châu Đông thắng thân. Pāli: Pubbavideha.
[04] Diêm-phù châu 閻 浮 洲. Pāli: Jambudīpa.
[05] Câu-đà -ni châu 拘 陀 尼 洲. Pāli: Godānīya. Hoặc nói: Aparagoyāna.
[06] Uất-đan-việt châu 鬱 單 越 洲. Pāli: Uttarkuru.
[07] Tu di sÆ¡n é ˆ 彌 å±± Pāli: Sinerupabbata.
[08] Thiên tứ Đại vương thiên 千 四 大 王 天. Có lẽ bản Hán chép nhầm, thay vì là Tứ thiên Đại vương, tức bốn ngà n vua cai trị bốn ngà n nước lớn trong loà i người. Pāli: cattāri mahārājasahassāni, bốn ngà n vị Đại vương.
[09] Tứ thiên vương tử 四 天 王 子. Pāli: Cātummahārājikā.
[10] Tam thập tam thiên 三 十 三 天 hay Đao-lợi thiên. Pāli: Tāvatiṃsa.
[11] Thích Thiên Nhân-đà -la 釋 天 å› é™€ ç¾ , tức Thiên Đế Thích. Pāli: Sakka devanam inda.
[12] Diệm-ma thiên 焰 摩 天. Pāli: Yāma.
[13] Bản Thánh không có. Bản Pāli cũng không có.
[14] Đâu-suất-đa å œ 率 哆 天. Pāli: Tusita.
[15] Hóa lạc thiên 化 樂 天. Pāli: Nimmānaratā.
[16] Thiện hóa lạc thiên tử. Bản Pāli không kể.
[17] Tha hóa lạc thiên 他 化 樂 天. Pāli: Paranimmitavasavattī.
[18] Tự tại thiên tử 自 在 天 子. Bản Pāli không kể.
[19] Phạm thế giới 梵 世 界. Pāli: Brahmaloka.
[20] Bản Pāli chỉ nói gọn: Mahābrahmā tattha aggam akkhāyati, ở đây Đại Phạm thiên được coi là cao nhất.
[21] Hoảng dục thiên hay Quang âm thiên, xem cth.13, Kinh 8 trên.
[22] Ý sanh 意 生 Pāli: manomayā.
[23] Hỷ thực 喜 食. Pāli: pīti-bhakkhā.
[24] Tứ tưởng 四 想. Xem Tập Dị 6. (No.2026, Đại 16 tr.392a-b).
[25] Chỉ các chúng sanh trên cõi Vô sở hữu xứ.
[26] Bát trừ xứ å « 除 處; nhưng thường nói Bát thắng xứ å « 勝 處, Pāli, aá¹­á¹­ha abhibhāyatanāni (xem Tập Dị 19, No. 2026, Đại 26 tr.445b và tt).
[27] Nguyên Hán: trừ dĩ tri, trừ dĩ kiến 除 已 知 除 已 見. Trong Tập Dị sđd., nt nói thắng tri thắng kiến (thấy siêu việt và biết siêu việt), và giải thích: đã đoạn trừ và siêu việt lục tham mà có thắng tri thắng kiến.
[28] Thanh thủy hoa 青 水 華. Tập Dị (sđd., nt): O-mạt-ca hoa, Umāpuppham (?).
[29] Tần-đầu-ca-la é » é ­ 歌 ç¾ . Pāli: bandhujÄ«vaka-puppha, loại hồng tà u. Bản Hán nà y có lẽ nhầm, vì loại hoa nà y mà u đỏ, Tập Dị và bản Pāli đều nói hoa nà y trong thắng xứ mà u đỏ.
[30] Thập nhất thiết xứ 十 一 切 處 hay biến xứ. Pāli: dasa kasiṇāyatanāni.
[31] Ngã vô, ngã bất hữu 我 無 我 不 有, trong bản Pāli, trường hợp nà y được gọi là : Ngoại y kiến xứù, là thi thiết thanh tịnh đệ nhất nghĩa (paramatthavisuddhiṃ paññāpenti).
[32] Đệ nhất ngoại y kiến xứ, tối ý kiến xứ; tối thượng ngoại kiến xứ, hay nói rõ hơn: “Đây là tối thượng đối với quan điểm ngoại đạo” và kiến xứù cao nhất ở đây được coi như là đạt đến hữu ngã.
[33] Trong bản Hán nà y, kiến xứ, hay quan điểm, cao nhất của ngoại đạo là đạt đến Bốn vô sắc xứ, khác với Pāli coi bốn vô sắc xứ nà y là thi thiết thanh tịnh đệ nhất nghĩa.
[34] Ư hiện pháp trung, tối thi thiết Niết-bà n 於 現 法 中 最 施 設 æ¶ æ§ƒ. Pāli: aggam paramadiá¹­á¹­hadhammanibbānam paññāpentānaṃ.
[35] Nguyên Hán: lục cánh lạc xứ å ­ 更 樂 處.
[36] Hán: đoạn 斷, hoặc nói là thông hà nh. Pāli: catasso paṭipadā.
[37] Tập Dị, Pháp Uẩn: lạc trì thông hà nh.
[38] Đặc tính của bốn tĩnh lự là hiện pháp lạc trú, và do đây mà tiến đến chứng đắc bốn Thánh quả, hoặc nhanh hoặc chậm. (Xem giải thích Phát Uẩn 3, No.2026, Đại 26 tr.465).
[39] Từ đây trở xuống dịch theo phần hiệu đính cuối kinh, trong nguyên văn để bản không có, nhưng đã có giải thích “sự đoạn mà lạc chậm” hay lạc trì thông hà nh, thì ba thông hà nh kia tất nhiên cũng được giải thích. Bản Pāli chỉ nêu danh số, không có giải thích.
[40] Tức khổ trì thông hà nh theo Tập Dị Môn Luận. Giải thích của Pháp Uẩn (đd): coi ngũ uẩn như là sự lăng nhục, thương tổn, bức thiết như gánh nặng, căn cứ trên đó mà quán sát nhà m tởm. Như vậy gọi là Khổ (...) thông hà nh (lược trích).
[41] Đoạn, nói là thông hà nh, hay nói là đạo và đạo tích đều cùng một nghĩa và cùng một nguồn gốc, cùng tương đương Pāli: paṭipadā.
[42] Nên hiểu là : ”Ta nói như vậy, giảng dạy như vậy”.
[43] Bản Pāli nói: “Sa-môn Cù-đà m không giảng giải sự thấu hiểu về dục, (...) về sắc, (...) về thọ”.
[44] Đoạn kết luận trên đây gần với bản Pà li, với một ít khác biệt (xem cth.43 trên), nhưng hoà n toà n khác nguyên văn trong để bản. Nguyên văn đó như vầy: (xem đoạn Lạc trì thông hà nh, và một câu lỡ dỡ về lạc tốc thông hà nh): ”Nếu có người đoạn lạc dục. Hoặc có người tập pháp nà y không bao giờ thấy chán. Hoặc có người tập uống rượu không bao giờ thấy chán. Hoặc có người tập sự ngủ nghỉ không bao giờ thấy chán. Nà y Tỳ-kheo, đó là nói hoặc có người tập ba pháp nà y không bao giờ thấy chán, và cũng không thể đi đến chỗ diệt tận. Cho nên, các Tỳ-kheo hay thường xả ly ba pháp nà y, không thân cận chúng. Như vậy, các Tỳ-kheo hãy học như vậy.

-ooOoo-

trang trước

đầu trang

trang kế


[Thư mục BuddhaSasana]